LỜI NGỎ
GÓC HÌNH ẢNH
- Trường xưa - Bạn cũ
- Quí Cha thầy & Ân nhân
- Chân dung xưa & nay
- Các cuộc hội ngộ
GÓC TÂM TƯ
- Hội ngộ Kim Khánh SB 08
- Tập san Lớp SB74 (2009)
- Tập san SBNT (1986)
- Nội san Lớp SB72 (2010)
GÓC KÝ ỨC
- Về trường lớp
- Về ân sư & bạn bè
- Về cuộc sống
GÓC THƠ NHẠC
- Vườn thơ
- Vườn nhạc
- Nghe nhạc Sao Biển
GÓC SUY NIỆM
- Suy niệm Lời Chúa (MT)
- Suy niệm Lời Chúa (VĐT)
- Suy niệm hằng ngày
- Suy tư theo mùa Phụng Vụ
- Tản mạn Kinh Thánh
- Chia sẻ
GÓC TIN TỨC
- Tin tức Sao Biển
- Diễn đàn Sao Biển
GÓC NỘI BỘ
- Góp ý & Bài vở
- Sinh hoạt nội bộ
GÓC NỐI KẾT
- Giáo phận Nha Trang
- CSB vùng Nha Trang
- Trang lớp 68
- Trang lớp 69-70
- Trang lớp 71
- Trang lớp 72
- Trang lớp 73
Gloria in excelsis Deo

Lc 2: 1-18

Sau khi sứ thần hiện ra báo tin trọng đại cho “các người chăn chiên sống ngoài đồng và canh giữ đàn vật”, rằng “Hôm nay, một [1] Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." (Lc 2:11-12)

thì

“Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."

Et soudain se joignit à l'ange une troupe nombreuse de l'armée céleste, qui louait Dieu, en disant "Gloire à Dieu au plus haut des cieux et sur la terre paix aux hommes objets de sa complaisance!"

Subito facta est cum angelo multitudo militiae caelestis laudantium Deum et dicentium "gloria in altissimis Deo et in terra pax in hominibus bonae voluntatis".

(Lc 2:12-14)


Trước hết chúng ta lưu ý chi tiết thú vị sau. Đêm hôm ấy, đêm hôm Chúa sinh ra đời tại Bêlem, thiên thần và các thiên binh không “hát”, mà chỉ “lên tiếng ngợi khen Thiên Chúa - laudantium Deum et dicentium”. Bản Vulgata ghi rõ “dicentium” nghĩa là “nói rằng".

Thế thì Nhạc sĩ Hải Linh và bác Đỗ Vy Hạ đã “dệt nhạc” cho lời “ngợi khen” của các thiên binh và thiên thần rồi. Quả là mỗi người có một cách riêng để “sống” Lời Chúa ! Nhạc sĩ sống Lời Chúa bằng cách dệt nhạc Lời Chúa.


Vài hàng tản mạn này không muốn dừng lại điểm trên, mà chỉ muốn mời chúng ta suy nghĩ tiếp về câu hỏi: “Khi Chúa Giêsu sinh ra tại Bê Lêm, những lời “ngợi khen Thiên Chúa” của “muôn vàn thiên binh” có ý nghĩa gì ?


1- “Thờ phượng một Đức Chúa Trời...”

Có thể nói được rằng, ý nghĩa của câu thiên thần và thiên binh ngợi khen sẽ bộc lộ rõ hơn, nếu chúng ta liên kết Bêlem với Gôngotha. Nói cách khác, biến cố giáng sinh tại Bêlem sẽ không có ý nghĩa nếu đời Chúa Giêsu không kết thúc tại Golgotha !

Trong niên lịch Phụng vụ, hai mầu nhiệm Giáng Sinh và Tử Nạn được tưởng niệm cách nhau không quá 100 ngày .

Chúa Giêsu không sinh ra tại Bêlem để rồi lớn lên cùng với gia tài do Ba Vua dâng cúng, và nghề mộc do thánh Giuse truyền lại mà sống đời bình thường như mọi người, và chết bình thường như mọi người ! Nếu là một người bình thường như thế thì đã không có câu ngợi khen “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời”.

Dường như Thiên Chúa trên trời chỉ đáng vinh danh nếu Ngài sai Người Con yêu dấu nhập thể - nhập thế, để chết đau thương trên thập giá, mang lại ơn Cứu rỗi cho nhân loại. Nếu hôm nay những người chăn giữ chiên dê kia nghe được câu “Hodie Christus natus est nobis - Hôm nay Đấng Cứu thế đã sinh ra cho chúng ta” thì đám dân Do thái trên Núi Sọ phải nghe được câu “Comsumatum est - Mọi việc đã hoàn tất”.
Giáng sinh và Tử Nạn là hai mặt của cùng một mầu nhiệm: Mầu nhiệm Cứu Chuộc.

Trước mầu nhiệm này, các thiên binh và thiên thần chỉ biết sừng sờ mà “tôn thờ Thiên Chúa bằng cách hát lên “Vinh danh Thiên Chúa.” Nghĩa là “Thiên Chúa, Đấng đang ngự trị trên các tầng trời kia, đáng được chúa tụng !”

Khi chúc tụng như thế là các Ngài thực thi giới răn thứ nhất: đó là thờ phượng một Đức Chúa Trời!


2- “Mộng vỡ bình thường ...”

Câu ngợi khen “Vinh danh Thiên Chúa trên trời” không chỉ vinh danh quyền năng của Thiên Chúa mà còn minh chứng cho việc Thiên Chúa không quản ngại mà còn xót thương nhập thể làm người sinh sống trong yếu đuối, vô danh và tăm tối.

Vinh quang Thiên Chúa hôm nay ngự xuống “bọc tã nằm trong máng cỏ”, giữa bầy súc vật, nghèo hèn và không một ánh đèn soi. Không ai biết và thăm viếng, ngoại trừ những người chăn chiên hèn kém. Họ đến, và họ đã sừng sờ vì thấy một Đấng Vô Biên bé nhỏ “bọc tã” nằm giữa máng rơm.

Trước khi Ngài sinh ra, nơi Ngài nằm là máng ăn của súc vật. Sau khi Ngài sinh, các bạn hài nhi cùng lứa với Ngài ở BêLem trở thành những vị Tuẫn đạo đầu tiên, làm chứng cho ơn Cứu độ của Thiên Chúa.

Dường như việc từ bỏ ngai trên thiên cung còn chưa đủ, Con Thiên chúa cùng với Mẹ Thiên Chúa không những phải gõ cửa từng nhà trọ xin tạm trú mà còn bôn tẩu lưu lạc tha phương lánh nạn trong đêm, để cuối cùng định cư tại Nagiareth, nơi mà người ta bĩu môi chê : “Từ Nagiareth thì có gì đáng nói!”

Tự hạ trong tăm tối như thế để làm gì ?

Có lẽ lời ngợi khen của thiên binh cũng sẽ được rõ ý nghĩa hơn nếu chúng ta liên kết biến cố giáng sinh với việc “vỡ mộng” tại vườn Địa đàng.

Ngay từ nguyên thủy, con người dường như bị ám ảnh bởi một nỗi “ngờ vực”: “Phải chăng Thiên Chúa khăng khăng cố thủ những đặc quyền của mình?” Con người nghĩ rằng vị Thiên Chúa chiều nào cũng đi dạo với mình trong gió mát ban chiều kia, tuy toàn năng nhưng vẫn ích kỷ, dựng nên con người nhưng lạnh lùng, không cần đến con người, cho con người có trí khôn nhưng lại giam hãm con người trong một giới hạn.

Tên cám dỗ là loài “miệng lưỡi”. Nó đưa ra một mục tiêu: “Ông bà sẽ nên như những vị thần.” (Stk 3:4). Nó mặc áo bác sĩ tâm lý trị liệu, và dùng phân tâm học, qua lăng kính của nhân loại học để “lên lớp” con người :

“Ông bà sẽ nên như các vị thần”. “Ông bà”: nghĩa là cái “tôi - ego” của con người, cái “căn tính người” của con người, cái “bản ngã” của con người, “sẽ nên như các vị thần”.

Qua cái bánh vẽ ấy, tên cám dỗ muốn giúp con người “vượt qua chính mình”, vượt qua những “giới hạn” của căn tính “làm người”. Vì thế nó nói “sẽ nên như".

Chung quanh con người quả có giới hạn. Giới hạn chặn ngang cái khao khát “vô cùng”, cái khao khát “toàn năng”, “toàn quyền” của con người. Người chỉ là “người mang phận thụ tạo”. Bên kia giới hạn là lãnh vực của người khác, của thần thánh.

Con người vượt qua giới hạn để mong “nên như các vị thần”. Mà vượt qua giới hạn là gây xung khắc, kéo theo cái chết của các vị thần, là xâm lăng vào lãnh vực của các vị thần nằm bên kia giới hạn, là hủy diệt các vị thần đó để trở thành các vị thần ấy.

Tên cám dỗ muốn nâng cái “tôi-ego” của con người lên ngang hàng các vị thần. Nó tung hoả mù, đại ý : “Thiên Chúa biết điều gì xảy ra khi hai ông bà ăn trái cây bị cấm ấy. Khi hai ông bà vượt qua được điều cấm kỵ , ông bà sẽ nên như các vị thần và Thiên Chúa sẽ không còn là gì nữa hết.”

Rõ ràng hầu như mọi điều hiểm ác đều bao gồm trong thái độ “vượt giới hạn”. Nào là bắn giết, hãm hiếp, nào là lạm dụng quyền lực nơi cha mẹ hay nơi những chính quyền ỷ thế nước mạnh hay chuyên chế, nào là con cái bỏ nhà đi hoang, nào là hoang phí các tài nguyên thiên nhiên và tài năng cá nhân, Tất cả đều là vượt quá giới hạn.

Như thế khi con người muốn vượt quá giới hạn “thụ tạo” của mình, nghĩa là không chấp nhận mình là loài thụ tạo, khi đó là tự huỷ diệt, là suy sụp luân lý, là tự sát tập thể, là tự tạo hỏa ngục cho chính mình.

Kinh thánh cho thấy nhiều minh hoạ về chân lý này: Sau sa ngã, xung khắc lập tức xảy ra giữa chồng vợ. Hai người đỗ lỗi cho nhau, cãi nhau. Mà lại cãi nhau trước mặt Thiên Chúa ! Sự sống bị xâm phạm, Cain giết Abel. Lao động trở thành cực nhọc.

Con rắn đã đưa ra một điều “láo lếu” trong cơn cám dỗ mà con người không để ý. Con rắn bày ra viễn cảnh trở nên như “các vị thần”. Nhưng “thần” nào thì nó không nói. Thần ấy có phải là Thiên Chúa hay không thì nó lại ỡm ờ, không xác định.

Hẳn là không phải, vì con rắn nói đến “các vị thần”, ở số nhiều!

Như thế nó hoàn toàn bày ra các vị thần nào đó, huyễn hoặc, không phải là vị Thiên Chúa mà hôm nay dang tự bày tỏ mình thành “Hài nhi sơ sinh bé nhỏ quấn tã nằm trong máng ăn.”

Vậy là trong vườn địa đàng, con người ước vọng được trở thành, mong chiếm chỗ, có tham vọng thay thế “các vị thần”. Nhưng các thần ấy hoàn toàn do mình “vẽ kiểu” , do chính mình nghĩ ra, bày ra. Thần tự tạo, “home-made”, cây-nhà-lá-vườn !

Vị Thiên Chúa đích thực, mà nay “đang quấn tã nằm trong máng” đây, có ghen tuông với loài người không ? Nói cách khác, xét theo công trình Nhập thể Cứu chuộc của Chúa Giêsu Kytô, thì Thiên Chúa có “e ngại” khi con người muốn trở thành “như các vị thần” không ?

Hoàn toàn không.

Hẳn là các vị thần trong thần thoại HyLạp luôn luôn ganh tỵ với loài người. “Các vị thần” ấy xiềng chân tay Prométhée vào núi đá vì ông ta đã lén lấy lửa cho con người.

Còn Thiên Chúa thì không như thế. Ngài không ghen tỵ với khả năng tri thức và sáng tạo của con người. Khi con người dùng trí khôn là “hình ảnh của Thiên Chúa”, nghĩ ra được văn minh cơ khí và điện toán, mở rộng tầm hiểu biết và khả năng của mình, Thiên Chúa đã thấy trước đó là “điều rất tốt đẹp”.

Theo Thánh vịnh 84, Thiên Chúa còn mời gọi chúng ta “ẩn trú trong Chúa”. Thiên Chúa muốn con người chia xẻ đời sống thần linh, trở thành con cái của Người. Thiên chúa muốn “thần hóa” con người, bằng bí tích và kinh nguyện. “Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3) “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con.” ( Ga 17:24)

Thánh Irênê đã từng nói: “Thiên Chúa trở thành người phàm, để người phàm có thể nên thần linh?” Ngài còn thêm : “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, và sự sống con người là nhìn thấy được Thiên Chúa.”

Không như Giacóp đã ương ngạnh cố công vật lộn với “Kẻ Lạ Mặt” ở khúc sông cạn Yabbot, Thánh Maxime The Confessor đã nói rất chí lí: “Con người chỉ bị khuất phục dưới sự khiêm hạ của Thiên Chúa.”

Bây giờ chúng ta mới thấy vinh quang thực sự của Thiên chúa hiển hiện ở chổ, thay vì ganh tỵ hay “phạt” con người vì đã ngông cuồng muốn “ngang ngữa” với “các vị Thần”, Thiên Chúa đích thân tự hạ xuống “làm người”.

Như thế bài học đêm Giáng sinh là con người không thể tự mình vượt qua giới hạn đưọc. Chính Thiên Chúa phải đích thân giúp, Thiên Chúa phải chỉ đường lối, phải chỉ cách thức, phải làm gương.

Thiên Chúa đã bỏ thân phận hoàn toàn không có hạn giới là thân phận Thiên Chúa, để trở nên “con người”, đảm nhận phận người với mọi giới hạn của nó, cả những giới hạn khắc nghiệt nhất là đau khổ và cái chết – để con người đạt được tham vọng có từ thời vườn địa đàng, là mộng ước nên như các vị thần. Không phải chỉ “nên như” mà đích thực “là con thần linh”, con Thiên Chúa.

Sự “khiêm hạ xuống thế làm người” ấy, là chính là “Vinh quang Thiên Chúa trên trời” mà các thiên binh đã ca tụng trong đêm Chúa giáng trần.


_________________________________

Ghi chú:
[1] Tại sao lại “một” ? Thế thì có “mấy” Đấng Cứu độ. Bản BJ ghi: “un sauver vous est né” Nhưng trong bản Vulgata không có loại từ “một” : “quia natus est vobis hodie salvator qui est Christus Dominus in civitate David”

Nguyễn Đức Khang 63