Cana, dấu chỉ nguyên ủy Nguyễn Đức Khang 63
Chỉ mình Thánh sử Gioan kể lại Dấu Lạ Chúa Giêus biến nước đựng trong vại dùng để rửa chân thành rượu ngon cho một tiệc cưới tại Cana (Ga 2:1-19). Cana [1] là một làng nhỏ cách Nagiareth chừng 10 cây số.
Thuật trình này được dùng nhiều để đọc và khai triển bài giảng dành cho Lễ Hôn Phối. Đó là điều dễ hiểu và tự nhiên.
Nhưng với lối sử dụng ngôn từ và hình ảnh bóng bẩy đầy biểu tượng, thánh sử Gioan còn dành cho chúng ta nhiều liên kết đầy thú vị và quan trọng khác. Muốn nắm được tối đa ý nghĩa hàm ẩn của thuật trình này, chúng ta cần chịu khó dừng lại từng chi tiết cụ thể, và còn phải làm quen với những ý nghĩa nằm giữa hai hàng chữ của thánh sử Gioan.
A- Trước tiên chúng ta hãy ôn lại từng chi tiết cần quên đi...
● “Ngày thứ ba, có đám cưới tại Cana, xứ Galilê, Mẹ Đức Giêsu có mặt tại đó.” (Ga 2:1)
Những chữ đầu của thuật trình, “Ngày thứ ba.. .” khiến chúng ta không thể không nghĩ đến câu tuyên tín đọc hàng tuần vào mỗi Thánh lễ Chúa Nhật: ” Ngày thứ ba, Người sống lại như lời Thánh Kinh .” Gioan muốn liên kết biến cố Cana-hôm nay với những gì xảy ra tại Đồi Golgotha-mai sau.
Sáng thế ký chương 22 câu 4 dùng kiểu nói “Ngày thứ ba” đầu tiên. Abraham dẫn con mình, cậu bé Isaac, “đi đến núi Chúa đã chỉ cho ông,” đã hai ngày đường. “Ngày thứ ba , ngước mắt nhìn lên, ông thấy nơi đó :” Đó là núi Moriah, nơi ông tế sống con mình theo lời thử thánh của Thiên Chúa .
Cách sau đó vài hàng, chính Gioan đã nói thẳng đến liên kết Cana-Golgotha này: Sau khi thấy Chúa Giêsu giận dữ cầm giây thừng đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền thờ, người Do thái chất vấn Ngài: “Hãy cho chúng tôi xem với dấu nào mà ông đã dám làm thế ? ” Ngài trả lời: “Hãy phá đổ Đền Thờ này đi, trong ba ngày, Ta sẽ dựng nó lên lại .” (Ga 2:18)[2].
Đó là chuyện xảy ra trong “ngày thứ ba”. Thế hai ba ngày trước là những ngày gì ? Có những chuyện gì đã xảy ra ?
Phải đọc lại những câu đầu tiên của Phúc Âm theo thánh Gioan theo biểu đồ từng ngày như sau đây, chúng ta mới thấy tuần lễ đầu tiên cuộc đời công khai của Chúa Giêsu trùng lập với tuần lễ đầu tiên của cuộc Sáng Thế:
• Jn 1:19 Gioan Tẩy Giả làm chứng về Chúa Giêsu khi trả lời chất vấn của các Thầy Tư tế và Lêvi đến từ Giêrusalem -> Ngày thứ Nhất, ngày 11 của tháng Tisri. Ngày lễ Xá tội.
• Jn 1: 29. Hôm sau, Gioan nói về Con Chiên Thiên Chúa. -> Ngày thứ hai.
• Jn 1: 35. Ngày kế tiếp, Gioan khuyến khích hai môn đệ của mình đi theo Chúa Giêsu.-> Ngày thứ ba.
• Jn 1: 43. Hôm sau, Chúa Giêsu bắt đầu đi lên miền Galilê. -> Ngày thứ tư
• Jn 2.1 “Ngày thứ ba, có đám cưới tại Cana...” -> Sau đó ba ngày. Như thế 4+3 = bẩy ngày
Tinh ý một chút, chúng ta như còn nghe vang trong tai những công thức quen thuộc của tuần lễ Sáng Thế đầu tiên : “Có một buổi chiều và một buổi sáng. Đó là ngày thứ ba .. .”
Cứ tuần tự như thế cho hết một tuần. Và đến ngày thứ bảy, ngày của Chúa, ngày kết thúc cuộc sáng tạo, ngày Chúa nghỉ ngơi sau sáu ngày làm việc. Đến ngày thứ bảy, một dấu chỉ Thiên Chúa ký giao ước mới với Dân của Người .
Gói trọn những chi tiết này trong ba chữ “Ngày thứ ba”, Gioan muốn hé cho chúng ta thoáng thấy Đức Kytô là khởi đầu một chu kỳ mới, một cuộc Sáng tạo mới, một thời đại mới.
Mới, so với truyền thống Do thái giáo cũ của Cựu ước đã chấm dứt với Gioan Tẩy giả. Mới, vì ai muốn gia nhập, thì “phải sinh lại”, như Đức Kytô đã nói rõ cho Nicôđêmô.
Cuộc sáng tạo mới này là công trình của Ngôi Lời Nhập Thể, là Đức Giêsu Kytô hoàn thành. Khi kín đáo nhắc lại ba chữ “Ngày thứ ba”, thánh Gioan làm chúng ta nhớ lại lời tiên tri Hôsê: “Sau hai ngày, Ngài hồi sinh chúng ta, và ngày thứ ba, Ngài cho chúng ta chỗi dậy, và chúng ta sẽ sống trước nhan Người” [3] (Os 6:2).
● “Có đám cưới tại Cana” (Ga 2:1).
Đã có nhiều đám cưới được nhắc đến trong Kinh Thánh, như đám cưới của Giacob và Rebecca. Các Ngôn sứ, Osê và Isaia, còn nhắc tới đám cưới của Thiên Chúa với Israel, Dân của Người: “Đấng đã dựng nên ngươi, là chồng ngươi: Đó là Thiên Chúa. Chính là tên gọi của Ngài: Đấng Thánh của Israel. Chính Người đã chuộc ngươi về. Ngài tên là Thiên Chúa toàn thể trái đất. ” (Is 54:5)
Trong Sách Khải Huyền chương 19 câu 7, Gioan còn nhắc đến Giao Ước hôn nhân của Chiên Con [4].
Bên cạnh, Thánh Matthêu còn ghi lại lời nhắc nhở của Đức Kytô: “Các khách cưới làm sao có thể ưu sầu khi chú rể còn đang ở với họ ? Đến khi nào Chú rể bị tước đi mất, lúc bấy giờ họ mới ăn chay.” (Mt 9:15) Chỗ khác: “Nước Trời giống như Vua kia tổ chứcđám cướicho con trai. ”( Mt 22:2)
Như thế chúng ta phải nên hiểu thuật trình này trong chiều hướng ấy: Giao Ước giữa Thiên Chúa và Giáo Hội của Người. Nếu chỉ áp dụng hay khai triển ý nghĩa thuật trình này cho giao ước hôn nhân cá biệt của đôi nam nữ không thôi, là chúng ta đã bỏ mất một chiều hướng phong phú mà Thánh sử Gioan kín đáo muốn ghi lại.
● Mẹ Đức Giêsu nói với Ngài: ”Họ hết rượu rồi. ” (Ga 2:3)
Rượu, mà là “rượu ngon”, trong Kinh Thánh, được cho là có sức làm hoan hỷ lòng người: “Bonum vinum laetificat cor hominis” (Ps 104:14)
Kinh thánh dùng một hình ảnh thi vị tuyệt vời để nói về chất nước nho lên men thành rượu này : “Et sanguinem uvae biberet meracissimum - uống máu rất tinh chất của chùm nho !” (Dt 31,14) Chắc chắn trong văn chương thế giới cổ kim, không hề có nơi nào gọi rượu nho là “máu tinh tuyền” của nho. Đất nước có rượu chảy triền miên là đất nước phì nhiêu (Dt 7:13).
Rượu nho gắn liền với Giao Ước và Đất Hứa (Dt 28:51), và là dấu chỉ của công cuộc tái thiết và hồi cư từ miền lưu đày: Tiên tri Joel tiên báo: “Ngày ấy, núi sẽ tuôn chảy những rượu mới, và sữa sẽ tuôn như suối từ các đồi nương” (Joël 4,18 )[5]. Lúc sắp chết, Giacob chúc phúc cho Juda có được một hậu duệ “sẽ cột lừa con vào gốc nho và giặt quần áo trong rượu, trong máu của trái nho “(Stk 49:11-12, xem thêm Is 63:3) Nghĩa là con cháu của Juda sẽ rất giầu có sung túc .
Trong Cựu Ước, rượu còn là hình ảnh của Lời Thiên Chúa, mạc khải cho loài người qua Luật Môsê và qua sự Khôn Ngoan. Chúng ta thường nghe câu Kinh thánh ca tụng sự Khôn Ngoan, đích thân dọn bữa, pha rượu, rồi lên tiếng mời những kẻ đang u mê trong những toan tính ngắn hạn: “Hãy đến mà ăn bánh của Ta, và uống rượu Ta đã dọn sẵn cho các người. Đừng u mê nữa, mà hãy sống thông minh” [6](Pr 9:6).
Tiên Tri Isaia cũng góp chung tiếng : “Hỡi những ai đang chết khát, hãuy đến mà mua không cần tiền, hãy tha hồ mà uống rượu và sữa... Hãy lắng tai mà nghe ! ” [7](Is 55:1-3).
Rượu còn được Kinh Thánh cho là hình ảnh của những gì mà Sự Khôn Ngoan giảng dạy, và con người cần nghe theo để được sống trọn vẹn. Khi Mẹ Maria nhận xét: “Hãy làm theo những gì Ngài bảo” ngay trong chương đầu tiên của Tin Mừng Gioan, giữa những thuật trình ghi lại việc kêu gọi các môn đệ đầu tiên, cho chúng ta ngầm hiểu rằng “Ai tìm (sự Khôn Ngoan) thì sẽ gặp thấy” [8]. Sự Khôn Ngoan đứng sẵn ở cửa chờ được mời vào [9]. Chính Sự Khôn Ngoan ấy, bây giờ lên tiếng hỏi: “Các anh tìm ai? ”[10], Nhưng ai tìm được rồi, thì “lưu lại cả ngày với Ngài”[11].
Như thế Đức Kytô chính là hiện thân của Sự Khôn Ngoan. Ngài sẽ dẫn những kẻ theo Ngài tới bàn tiệc cưới, ở đó có rượu mới và “ngon “( Ga 2:10) là Lời Hằng Sống. Luật Cũ trong Giao Ước Cũ, không đủ, và còn “thiếu” (Ga 2:3). Đức Giêsu mang lại Rượu Mới , ngon hơn và đầy đủ đến dư tràn. Đó là Lời Ngài rao giảng, là ân sủng và chân lý Ngài mang lại (Ga 1:17). Luật Cũ đã tốt, nhưng Luật Tin Mừng còn tốt hơn: “Ông giữ rượu ngon cho đến bây giờ “ (Ga 2:10).
Lý do cho phép chúng ta hiểu thuật trình này theo chiều hướng khác hơn là chiều hướng thuần tuý hôn nhân, là chi tiết thú vị này của sách Tin Mừng theo Thánh Gioan. Thánh Sử Gioan là người duy nhất không ghi chép lại việc lập phép Thánh Thể. Gioan không có đoạn văn kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra trao cho các môn đệ và phán: “Này là mình Ta” [12].
Trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, diễn từ về Thánh Thể nằm ở chương 6, sau phép lạ nhân bánh ra nhiều. Mà chương 6 này nằm trong một mạch văn với câu Ga 4:46 “Ngài lại đi đến Cana, xứ Galilê nơi Ngài biến nước thành rượu. ” Nghĩa là sau khi nhắc tới phép lạ Cana, Ngài nhân bánh thành nhiều để nuôi no nê toàn dân.
Như thế Cana và Thánh Thể chỉ là một biến cố kéo dài.
● “Này Bà... ” (Ga 2:4)
Chúng ta thường lấy làm chói tai khi nghe Chúa Giêsu gọi mẹ Maria bằng danh xưng xa lạ và không thường sử dụng thấy trong đời sống bình nhật. Chả có người con nào gọi mẹ mình: “Này Bà! ”.
Gioan không hề dùng tên Maria để gọi mẹ Chúa Giêsu, và chỉ mình Gioan ghi lại hai lần Chúa Giêsu dùng danh xưng này để gọi Mẹ Maria. Một lần ở đây, tại Cana, và lần kia, khi Ngài bị treo trên Thập giá đồi Gôngotha. “Khi thấy Mẹ mình., và gần Mẹ có môn đệ mình yêu dấu. Chúa Giêsu nói với Mẹ : ‘Này Bà, đây là con Bà” [13].
Chỉ cần ghi lại danh xưng “Bà – Woman – Femme” mà Chúa Giêsu đã gọi Mẹ Maria tại Cana, Thánh Gioan đã cho chúng ta thấy ngay sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ đầu sách Kinh Thánh, trong tuần Sáng tạo đầu tiên, qua Vườn Địa đàng, qua Cana, tới tận chân Thập giá trên Đồi Sọ.
Kiếu gọi “Bà” như thế không hề ngụ ý khinh miệt. Nhiều nơi khác đã có dùng (xem Mt 15,28 ; Lc 13,12 ; Jn 4,21 ; 20,13) . Ngày từ vườn địa Đàng, “Bà” đã là người đồng hành với Adam, và là “Mẹ chúng sinh” (Stk 2:23 ; 3:20).
Như thế, dưới chân Thánh Giá, khi Thánh sử Gioan ghi rằng để trọn lời Kinh Thánh “để Kinh Thánh nên trọn: “Chúng chia nhau áo xống Ta, còn áo choàng Ta thi chúng bốc thăm” [14](Ga 19:23), Chúa Giêsu trao phó Mẹ mình cho người môn đồ. Lúc đó, chúng ta nhớ lại câu chúc dữ Thiên Chúa dành cho con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa miêu duệ ngươi và miêu duệ bà. Bà sẽ đạp đầu ngươi và người rình cắn gót chân bà” [15](Stk 3:15).
Có một cuộc tranh đấu gay gắt và bất khả nhượng giữa nhóm “người Do thái”, mà Chúa Giêsu đã từng nói là: “Cha các anh là ma qủy...kẻ giết người và cha của dối trá” [16] và Chúa Giêsu, hậu duệ đích thực của Abraham, Con của Maria, Evà mới. Ngài là Lời-Chân Lý [17].
Cuộc chiến ấy sẽ kết thúc tại Thập Giá: “Giờ đây thủ lãnh thế gian này sẽ bị ném ra ngoài, và Ta, khi được treo lên cao, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”[18]. Đó là giờ vinh quang, giờ mà người Trưởng Tử đạp đầu con Rắn. Bên cạnh, có Mẹ Maria.
Việc liên kết hai biến cố Cana-Gôngotha qua cách gọi “Này Bà” là điều không thể bỏ qua. Như thế, dấu chỉ tại Cana lại có thêm một ý nghĩa gắn liền với biến cố Chết-Phục Sinh.
Chúng ta dừng lại một chút nghe hai mẹ con đối thoại với nhau :
● Mẹ Maria nói: “Họ hết rượu rồi.” Chúa Giêsu đáp: “Ti emoï kaï soï, gunaï” (Ga 2:4)
Chúng ta cố ý để nguyên văn Hylạp. Tiếng Pháp thường được dịch rất sát, và hiểu như sau : “Quoi entre toi et moi , femme ? - Giữa tôi và Bà có gì ? ” Bản Tiếng Anh được Hội Đồng Giám Mục CG Hoa Kỳ sử dụng , chuyển dịch thành : “Woman, how does your concern affect me? - Này Bà , điều Bà quan tâm thì có liên quan gì đến tôi ? ” Rõ ràng bản tiếng Anh, với những từ thêm vào “how”, “concern”, “affect” đã dẫn chúng ta đi xa nguyên bản Hy lạp.
Bây giờ, nếu chúng ta giữ nguyên câu văn và chuyển dịch sát chữ sang kiểu nói Việt Nam, hẳn chúng ta sẽ thích thú với câu văn Việt nam này: “Bà này, giữa Mẹ với con thì có gì [mà phải...]? ”
Thú thật, mỗi lần nghe đoạn Phúc âm này trong mỗi lễ cưới, trong đầu chúng tôi luôn luôn còn nghe thêm được tiếng chắt lưỡi của Chúa Giêsu trước khi nói câu này, tuồng như nhẹ nhàng “trách” Mẹ mình : “ [Chật ! Sao mà khách sáo] Giữa mẹ với con [thì có gì mà phải nhắc nhở thế. Mẹ biết con quá rồi]! Ti emoï kaï soï ! ”. Và Mẹ Maria nghĩ trong bụng: “Thì Mẹ nhắc là nhắc vậy cho mà liệu! ” Câu chuyện sẽ bình dân hơn, Á đông hơn. Thậm chí còn mang dáng vẻ rất Việt Nam. Và nhất là dễ đi vào lòng của chính chúng ta hơn.
Nhất là lúc ấy, lúc Chúa Giêsu bắt đầu đời công khai rao giảng, Thánh Giuse đã không còn được nhắc đến,- các nhà chú giải đều cho là Ngài đã mất, - thì mối liên kết hai Mẹ-Con hẳn là mật thiết hơn nữa. “Ti emoï kaï soï ! Giữa Mẹ và Con [mà làm như người xa lạ không bằng ]!” [19].
● “Giờ của con chưa đến” (Gioan 2:4)
Gioan ghi lại nhiều lần việc Chúa Giêsu nhắc đến “giờ” của Ngài. Đó là giờ gì ?
Với người phụ nữ xứ Samari, Ngài cho biết: “Này chị, tin tôi đi, sẽ đến giờ những người thờ phượng Cha không phải tại núi Samarie này, cũng chẳng phải tại Giêrusalem” (Ga 4:21). “Nhưng giờ sẽ đến, và đã điểm rồi, những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha trong tinh thần và trong chân lý. Mà đó mới thật là những người thờ phượng mà Cha muốn. ” (Ga 4:23) [20].
Với những người hữu trách trong xã hội Do thái lúc bấy giờ, khi họ tới tra vấn Chúa Giêsu tại sao lại dám chữa lành ngươì mù trong ngày sabbath ? Ngài trả lời: “Tôi nói cho quý vị biết, sẽ đến giờ - và quả thực giờ đó đã điểm rồi - người chết sẽ nghe được tiếng Con Thiên Chúa. Và ai nghe được tiếng đó sẽ sống. Qúy vị đừng ngạc nhiên nữa . Sẽ đến giờ người chết trong mồ nghe được tiếng Ngài. ” (Ga 5:25.28 )[21].
Khi công việc rao giảng của Chúa Giêsu càng ngày càng thành công, và xung khắc giữa Ngài và nhóm Biệt phái càng ngày càng trầm trọng : “ Họ tìm cách bắt Ngài. Nhưng không ai dám ra tay, vì giờ Ngài chưa đến” [22](Ga 7:30).
Ở chương 12, khi Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, Thánh Gioan kể cho chúng ta mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và hai ông Philipphê, Anrê về chuyện có vài người lạ muốn gặp Chúa Giêsu : “ Này giờ đã đến, giờ Con Người được tôn vinh”[23] (Ga 12:23).
Ở đoạn này, một chữ mới được đi kèm với “ giờ”. Đó là “ được tôn vinh”. Đọc lại thuật trình Cana. chúng ta cũng thấy có nhắc đến chuyện vinh quang của Ngài được biểu lộ. Và sau đó chỉ vài câu chúng ta thấy Chúa Giêsu đề cập tới “giờ tử nạn”. “ Này lòng ta rất đỗi xao xuyến. Ta biết nói gì bây giờ ? Rằng “Cha ơi, xin cứu con khỏi giờ này” sao ? Nhưng chính vì giờ này mà Ta đã đến cơ mà ! ” [24] (Ga 12:27).
Nhưng ở chương 13, thánh Gioan ghi lại những câu minh thị nhất cho chúng ta biết “giờ” đó là “giờ” gì. “ Chúa Giêsu biết rằng giờ của Ngài đã đến, giờ rời bỏ thế gian này mà về với Cha. Ngài đã yêu thương những người thuộc về Ngài còn đang ở thế gian này, và đã thương yêu họ đến cùng .”Này giờ đến rồi, và đã đến đây rồi, giờ các anh phải xẻ đàn tan nghé, mỗi người đi mỗi hướng, và các anh bỏ Tôi một mình,. Nhưng Tôi không lẻ loi. Có Cha với Tôi “. Nói thế rồi, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói :”Lạy Cha, giờ đã đến. Xin tôn vinh Con Cha , để Con cũng tôn vinh Cha. ” [25] (Ga 13:1; 16:32; 17:1).
Như thế chúng ta có thể kết luận Cana là giờ bắt đầu cho một chuỗi biến cố liên tiếp tuần tự xảy ra, để rồi đạt cao điểm trên Thập giá và kết thúc nơi mộ trống sáng ngày Phục Sinh đầu tuần .
● Còn một chiều hướng khác để hiểu “ giờ” của Chúa Giêsu .
Theo người Do thái, Đấng Messiah là người ẩn danh trước khi thực sự tỏ mình lộ diện trước công chúng, hoặc vì Ngài đã tiền hữu bên cạnh Thiên Chúa, hoặc vì, ngay sau khi sinh ra, Ngài đã được mang đến một nơi ẩn cư kín đáo: Sách Khải Huyền (12:6) cho biết “ Và người đàn bà trốn vào vùng u tịch, ở đó Thiên Chúa dọn sẵn một nơi cho mẹ con bà” [26]. Ngài sẽ xuất đầu lộ diện bằng một cuộc hiển dung vinh quang, vào một “ giờ “ nào đó.
Chủ đề Đấng Messiah ẩn danh đã được thánh Gioan kín đáo trình bày ngay từ câu nói của Gioan Tẩy Giả: “ Ở giữa quý vị có một người mà cả tôi và qúy vị cũng không biết” [27] (Ga 1:26.31).
Tại Cana, “ Giờ” của Đấng Messiah-Giêsu tỏ hiện đã điểm. Tại Cana Ngài bắt đầu công việc cứu thế. Câu trả lời của Chúa Giêsu, nếu hiểu cho chính xác theo chiều hướng này, có kèm dấu hỏi và được hiểu như sau : “ Này Bà, [chẳng lẽ] giờ tôi chưa đến [sao] ? ” Chúa Giêsu như trách Mẹ: “ Chẳng lẽ Mẹ lại quên rằng “Giờ” của con đã tới, giờ con xuất hiện trong tư thái Đấng Messiah, có khả năng mang lại rượu “mới” và “ngon” cho nhân loại ? “
Chỉ cần ghi lại danh xưng “ Bà – Woman – Femme” mà Chúa Giêsu đã gọi Mẹ Maria tại Cana, Thánh Gioan đã cho chúng ta thấy ngay sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ đầu sách Kinh Thánh, trong tuần Sáng tạo đầu tiên, qua Vườn Địa đàng, qua Cana tới tận chân Thập gía trên Đồi Sọ .
Kiếu gọi “Bà”như thế không hề ngụ ý khinh miệt. Nhiều nơi khác đã có dùng (xem Mt 15,28 ; Lc 13,12 ; Jn 4,21 ; 20,13) . Ngày từ vườn địa Đàng, “Bà” đã là người đồng hành với Adam, và là “Mẹ chúng sinh” (Stk 2:23 ; 3:20).
Như thế, dưới chân Thánh Giá, khi Thánh sử Gioan ghi rằng để trọn lời Kinh Thánh “ để Kinh Thánh nên trọn:”Chúng chia nhau áo xốngTa, còn áo choàng Ta thi chúng bốc thăm” [28](Jn 19:23) Chúa Giêus trao phó Mẹ mình cho người môn đồ. Lúc đó, chúng ta nhớ lại câu chúc dữ Thiên Chúa dành cho con rắn: “ Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa miêu duệ ngươi và miêu duệ bà. Bà sẽ đạp đầu ngươi và người rình cắn gót chân bà” [29](Stk 3:15).
Có một cuộc tranh đấu gay gắt và bất khả nhượng giữa nhóm “người Do thái”, mà Chúa Giêsu đã từng nói là: “ Cha các anh là ma quỷ...kẻ giết người và cha của dối trá” (Ga 8,44, xem thêm Ga 6,70 ; 13,2.27) và Chúa Giêsu, hậu duệ đích thực của Abraham, Con của Maria, Evà mới. Ngài là Lời-Chân Lý (Ga 8,23.37.46.58).
Cuộc chiến ấy sẽ kết thúc tại Thập Giá: ” Giờ đây thủ lãnh thế gian này sẽ bị ném ra ngoài, và Ta, khi được treo lên cao, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta” [30](Ga 12,31.32). Đó là giờ vinh quang, giờ mà người Trưởng Tử đạp đầu con Rắn. Bên cạnh, có Mẹ Maria.
● Mẹ Ngài nói với các gia nhân: “Anh ấy bảo gì thì cứ làm theo. " (Ga 2:5)
Câu nhắn nhủ của Mẹ Maria khiến chúng ta nhớ tới câu nhắn nhủ của Pharaô thời Giuse làm quan đại thần Aicập ở sách Sáng thế ký chương 41 câu 55: “ Toàn thể Ai cập lâm vào nạn đói. Dân chúng kêu la đòi Pharaô cho bánh. Nhưng Pharaô nói với dân Ai cập:’ Hãy đến với Giuse. Ông ta bảo gì thì hãy làm theo. ”
Nhưng chúng ta còn có thể liên kết câu nhắn nhủ của Mẹ với công thức ký kết giao ước trong Kinh Thánh. Mỗi khi ký bất kỳ giao kèo hay khế ước nào do Thiên Chúa đề nghị, dân chúng đồng thanh thưa với người trung gian rằng: “ Tất cả những gì Thiên Chúa phán, chúng tôi sẽ tuân theo. ” (Ex 19,8 ; 24,3-7 ; Dt 5,27 ; Jos 24,24 ; Esd 10,12 ; Ne 5,12)
Như thế Gioan đã đặt trên môi miệng Mẹ Maria những lời dân Do thái ngày xưa đồng thanh tuyên tín dưới chân Núi Sinai. Mẹ nhắn nhủ gia nhân hãy hoàn toàn tin tưởng vào Đức Giêsu, như ngày xưa dân hoàn toàn tín nhiệm vào Giao Ước: “ Hãy đổ đầy ... Họ đổ đầy ... Hãy mang cho người chủ tiệc ...Họ mang cho người chủ tiệc. ” ( Ga 2:7.8)
● “ Ở đó có sáu cái vại dùng vào việc thanh tẩy của người Do thái. ” (Ga 2:6)
Sáu vại, mỗi vại chứa được chừng trăm lít nước, đủ để rửa tay chân cho các thực khách đám cưới. Người Do thái rất cẩn thận đến độ chi li trong việc giữ mình thanh sạch. Theo nghĩa bóng không được thì họ thực hành theo nghĩa đen. Trước khi tế tự hay ăn uống, họ đều rửa tay chân, “ để cho lòng được thanh sạch”. Nước lã không rửa sạch tội thì Chúa Giêsu đã dùng rượu của Hôn Nhân mới trong Giao Ước mới để tẩy trần .
Có hai chi tiết liên quan đến con số 6. Gioan nhắc đến có sáu vại đựng nước (hydrias) dành cho nghi thức thanh tẩy. Ngay sau khi chịu Phép Rửa, Chúa Giêsu gọi sáu môn đệ đầu tiên. Gioan và Anrê, rồi Phêrô, Philipphê, Giacôbê và Nathanael . Trong tiệc cưới tại Cana, sáu môn đệ này đều có mặt.
Sáu, trong Kinh Thánh là một con số chưa trọn vẹn, nói lên tính cách bất toàn, bất túc. Chính vào giờ thứ sáu mà Chúa Giêsu bị mệt lả (Ga 14:6) và bị nộp vào tay Philatô (Ga 19:14). Sáu lần nhân tính của Ngài, đầy yếu đuối như thân xác mọi người khác, được nhắc đến khi Ngài được người ta gọi trống là “ Người này - Cet homme “ (Ga 7:46 ; 9:16. 24 ; 18:17.29 ) Sáu lần nhắc đến sự cứng lòng tin của người Do thái (Ga 5:38. 44. 46. 47. 47)
Trong khi đó, động từ “ làm chứng” được dùng những bẩy lần (Ga 5:31. 32. 32. 33. 36. 37. 39). Số Bẩy là một con số hoàn hảo. Sáu lần nhắc đến những dịp Lễ trong đời Chúa Giêsu (Ga 2:13; 6:4; 11:55; 12:51; 7:2; 10:22) Nhưng lễ Vượt Qua lại được nhắc đến bẩy lần: (Ga 11:55 (hai lần trong câu này); 12:1; 13:1; 18:28.39; 19:14).
Từ “ rượu”, trong đoạn này, được nhắc đến sáu lần ( câu 3 ba lần, câu 8 hai lần, và câu 10 một lần). Và nhắc lại lần thứ bẩy ở câu Ga 4:46 kế tiếp:“ Ngài trở lại Cana xứ Galilêa nơi Ngài biến nước thành rượu - venit ergo iterum in Cana Galilaeae ubi fecit aquam vinum” . Được nhắc đến bẩy lần, rượu Cana quả thật là rượu “ ngon “ và “ hoàn hảo”.
Như thế, con số sáu nhắc ta xa gần đến vai trò của Chúa Giêsu như một khởi đầu mới .
Tất cả được sáng tạo lại. Trong cuộc sáng tạo ban đầu, Thiên Chúa tạo dựng trời đất. Trong cuộc sáng tạo mới này với Đức Kytô, Thiên Chúa lập nên các bí tích, rồi tái tạo mọi sự bằng ân sủng của Ngôi Lời Nhập Thể.
● “ Ngài bảo họ: ” Đổ đầy những vại này. “ (Ga 2:7)
Chúng ta thường quên mất chi tiết: trong nhà không có giếng. Tại Cana chỉ có cái giếng chung. Phải đi xa ít là vài trăm thước để múc nước, rồi đội chum nước trên đầu mà đi về. Đổ cho đầy sáu cái vại to, 600 lít nước, công khó không phải là nhỏ. Sự cộng tác của các gia nhân là cần thiết để phép lạ được gọi là lạ lùng.
Chúng ta không nên quên ca tụng tính mẫn cán và vâng phục của các gia nhân. Chắc chắn họ chưa biết rõ thân phận Chúa Giêsu. Nhưng nghe theo lời Mẹ Maria dặn dò, họ làm theo những gì Chúa Giêsu đã nói.
Nghe theo những gì Chúa Giêsu bảo làm lúc bấy giờ không phải là điều dễ dàng. Đang giữa bữa tiệc vui, nhộn nhịp. cần đến sự “chạy bàn” của nhiều ngườì, mà phải bỏ hết mọi chuyện cần làm để đi múc nước từ giếng khơi, đội trên đầu từng chum một, trở về đổ cho đầy sáu cái vại to, hẳn không phải là chuyện khiến người nghe dễ dàng làm theo.
Rồi bất ngờ hơn thế, khi vừa đổ đầy các vại đó bằng nước giếng, ông Giêsu kia lại bảo: “ Bây giờ múc đưa cho người chủ tiệc. ” (Ga 2:8) Múc nước dùng để rửa tay chân cho người chủ tiệc uống! Liệu đấy có phải là điều bình thường nên làm ? Gioan không ghi lại những ánh mắt ái ngại của các gia nhân nhìn Chúa Giêsu. Hay nhưng dấu hỏi to tướng trong đầu họ.
Hẳn các gia nhân đã đóng góp phần không nhỏ vào thành tựu của Phép lạ Cana. Họ đã tin vào lời Chúa Giêsu mà làm theo không biện bác.
Sau sự việc, không chỉ các môn đệ tin vào Ngài, mà chắc chắn các gia nhân là những tín hữu đầu tiên. Họ thấy được “vinh quang của Đức Giêsu” vì họ đã theo lời người Tín hữu thứ nhất: Mẹ Maria.
● “ Đó là dấu lạ đầu tiên của Chúa Giêsu - Arkéon ton séméon ô Iêsous” (Ga 2:11)
Vào cuối thuật trình, thánh Gioan ghi: “ Đấy là dấu lạ đầu tiên Chúa Giêsu đã làm- Arkéon ton séméon ô Iêsous ”(Ga 2:11) .
Đó là một nhắc nhở kín đáo về thời ban sơ, thời khởi thuỷ của vũ trụ. Hai chữ “đầu tiên” đưa chúng ta trở lại những câu đầu của Sách Tin Mừng theo thánh Gioan, và của Sách Sáng Thế Ký : “ Từ ban đầu đã có Ngôi Lời. Và Ngôi Lời hướng về Thiên Chúa. Và Ngôi Lời chính là Thiên Chúa. ” [31] (Ga 1,1 ). ”Từ ban đầu, Thiên Chúa dựng nên trời đất. Lúc ấy đất còn hoang vu và trống rỗng. Và Thiên Chúa phán: “ Từ khởi thuỷ, Thiên Chúa dựng nên trời và đất.. Đất còn hoang vu và trống rỗng...Và Thiên chúa phán .. .” [32] (Stk 1:1).
Gioan có ý muốn cho chúng ta thấy rằng Đức Giêsu Kytô là một khởi đầu mới, một Sáng thế mới.
Từ Hylạp “Arkéon- principe“ còn có nghĩa là “ nguyên lý”, Nghĩa là lý do khởi nguyên tạo thành mọi sự. Ta gặp từ này ngay trong câu đầu tiên Sách Sáng thế : “ Bereshit Bara (Do thái) – Từ khởi thuỷ, Thiên Chúa dựng nên... ” (Stk 1:1).
Nhưng từ Arkéon- principe còn có nghĩa là “ mẫu nguyên thuỷ - archetype” : Cana phải là chìa khóa giúp chúng ta hiểu được những dấu lạ sau này của Chúa Giêsu làm. Không chỉ thế, Cana còn giúp chúng ta hiểu trọn cuộc đời Chúa Giêsu theo cái nhìn của Tin Mừng thứ Tư.
●● Sau khi ôn lại những chi tiết cần lưu tâm, chúng ta thấy gì ?
Tuy là đám cưới, nhưng thánh sử Gioan không hề giới thiệu hoặc nói gì về đôi nhân vật trung tâm này. Chúng ta không biết cô dâu và chú rể là ai. Đám tiệc là tiệc cưới dành cho họ, nhưng rõ ràng họ không phải là những nhân vật chính diện. Mãi đến câu thứ 10, lúc nước đã trở thành rượu và được mang đến cho người chủ tiệc, chúng ta mới nghe nhắc đến chú rể. Chủ tiệc nói với chú rể : “ Mọi người ai cũng dọn rượu ngon ra trước, và khi khách đã ngà ngà, người ta mới đem rượu nhạt ra. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến bây giờ ! ” (Ga 2:10).
Chú rể là ai, mà đứng ở hậu trường ? Nếu không phải là chính Thiên Chúa hằng sống, đang tổ chức tiệc cưới với Dân của Người. Đức Giêsu là khách mời, nhưng cũng là người thành toàn những chương trình của Thiên Chúa ?
Chủ đề này chúng ta đọc thấy trong Os 1-3 ; Ez 16 ; Is 50,1 ; 54,4-8 ; 62,4-5 ; Jr 2,1-2 ; 3,1.6.12 ; Ct ; Ps 44 v.v.
Mẹ Maria và Đức Giêsu là những người ở chính diện, thay mặt cho đôi bên hôn lễ. Qua cử chỉ và những mẩu đối thoại, hai người xuất hiện như Tân Nương và Tân Lang trong bàn tiệc Thiên Sai và Cánh chung.
Điều này còn được bổ túc bằng một chứng cớ quan trọng. Ngay trong chương kế tiếp, Gioan Tẩy giả đã nói mình chỉ là người tiền phong cho Chú rể là Đức Giêsu: “ Ai có Cô Dâu là Chú rể. Còn bạn của Chú rể đứng đó, nghe Chú rể nói mà lòng vui mừng vì được nghe tiếng Chú rể.” (Ga 3:29. Xem thêm Mt 9:14 và các đoạn song song ; Mt 22:1tt).
Hôn Nhân giữa Thiên Chúa với Nhân loại-Dân Người chỉ thành toàn nhờ mầu nhiệm Thánh giá-Phục sinh, lúc Thánh Thần được ban xuống tràn trề. Giáo Hội, là Tân Nương, được phát sinh từ cạnh sườn bị đâm thủng của Adam thứ hai đang treo trên Thánh giá (Ga 9,30.34 ; Gn 2,21-23 ; Ep 5,25-28).
Lý do thứ ba góp thêm sức mạnh cho kết luận trên: Sau khi nêu lên nhận xét của mình ở Cana, Mẹ Maria không còn được nhắc tới trong Tin mừng thứ tư. Cho mãi tới khi xuất hiện trở lại dưới chân Thập giá. Maria và Giêsu tại Cana. Maria và Giêsu tại Gôngotha .
Như thế, chúng ta có thể yên tâm kết luận: Cana và Golgotha liên kết với nhau. Cana là điểm khởi đầu. Golgotha là đích điểm.
B... để cùng Mẹ Maria suy niệm
Cana.
Cuối cùng rồi, việc phải đến đã đến.
Sau bao nhiêu năm sống bằng niềm tin, một niềm tin tuyệt đối vào Con và vào chương trình Thiên Chúa Tổ phụ chúng ta, Mẹ có linh cảm rằng Con không thể sống âm thầm như từ trước đến nay, như từ 30 năm qua.
Sứ thần nói với Mẹ: “Con bà sinh ra là Đấng Thánh.” Mẹ biết thế, và chỉ biết thế. Đấng Thánh của Thiên Chúa rồi sẽ làm những gì, Mẹ chẳng thể biết. Mà Con cũng chẳng hề nói cho Mẹ biết.
Từ lúc nằm nôi, rồi lớn lên cho đến năm 13 tuổi, Con vẫn như mọi đứa trẻ khác. Mẹ nhìn Con lớn lên hằng ngày, biết bò, biết đi, biết nói, biết đọc, biết viết... Mẹ vẫn hằng ngạc nhiên tự hỏi trong lòng: “Đấng Thánh của Thiên Chúa Israel là đây sao?”
Năm 13 tuổi, Con ở lại Đền thờ. Giuse và Mẹ tưởng đã mất Con. Chúng ta đã lo âu thật sự, lòng như lửa đốt vì có lỗi đã không làm tròn nhiệm vụ được giao. Khi Con trả lời “phải lo việc Cha Con “ thì Chúng ta biết Con vẫn hằng canh cánh trong lòng công việc của Cha.
Nhưng Chúng ta không hề biết công việc gì và Con sẽ làm gì. Và khi nào thì bắt đầu làm, hay khi nào hoàn thành công việc ấy. Chúng ta vẫn hằng ngày chờ đợi một điều gì đó sẽ xảy ra. Mỗi ngày như thế. Suốt ba mươi năm rồi.
Theo ngày tháng, Con trưởng thành, lớn lên. Từ một thanh niên trở thành người đàn ông, chững chạc trong tư thái, thạo nghề mộc như Giuse, hằng ngày ra vào vẫn chỉ biết có búa kìm, đục đẽo, cưa bào, mà vẫn canh cánh “lo chuyện Cha Con”, thì quả thực điều đó quả là một mầu nhiệm.
Không một ai thực sự biết Con là ai .
Gioan, người anh em họ của Con đã xuất hiện như một tiên tri, rao giảng phép Rửa bên bờ sông Giodan. Người ta nghe biết, kéo tới rất đông. Anh ta đã có nhiều môn đệ. Đã mấy tháng nay rồi. Vậy mà Con vẫn bình lặng với đời sống thường nhật.
Chỉ mãi đến đầu tuần rồi, Con mới ra đi.
Mẹ theo Con ra tận bờ sông. Đứng lẫn trong đám người chen chúc đến chịu phép rửa, Mẹ thấy Con đi lên khỏi nước và trời mở ra. Mẹ nghe tiếng Đấng Quyền Năng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Ta”. Tức khắc Mẹ hiểu điều quan trọng đã xảy ra.
Khi Gioan giới thiệu các môn đệ đến với Con, khi họ ở lại với Con cả ngày để đàm đạo, hỏi han đủ điều về Đấng Messiah, Mẹ đột nhiên thấy Con đã là một rabbi, có đồ đệ đi theo. Ngay lúc ấy, Mẹ biết Con đã sẵn sàng.
Mẹ ghi nhớ những điều ấy và luôn suy niệm trong lòng. Mẹ đã lập lại lời “Xin vâng“.
Hôm nay trong đám cưới, Mẹ thấy đã Con hùng hồn nói. Cả bàn tiệc chỉ ngồi lắng tai nghe Con. Những khách tiệc các bàn chung quanh thỉnh thoảng cũng im lặng ngạc nhiên, lắng tai nghe Con. Mẹ thấy các đồ đệ theo con gật gù như đã bị Con chinh phục. Chừng như họ uống lời con hơn là uống rượu. Mẹ hiểu họ cần phải dấn thân nhiều hơn với Con. Mẹ biết họ cần điều gì. Cũng như Mẹ, họ cần niềm tin đặt vào Con.
Cả bàn bị thu hút, chăm chú nghe Con nói mà gần như quên mọi sự chung quanh. Chẳng ai để ý rằng rượu đã hết.
Ngay lúc ấy, Mẹ bỗng thấy rằng tất cả đều khát. Tất cả đều đang khao khát một điều gì.
Nên Mẹ nghĩ Con cần phải làm một điều gì đó. Cho mọi người. Con phải dọn “rượu mới” và “ngon” cho họ.
Vì thế, Mẹ đã lên tiếng báo: “Họ hết rượu rồi.”
Giờ của Con đã tới hay chưa, không phải là điều Mẹ cần biết. Mẹ chỉ biết rằng mình cần phải thông báo, không chỉ cho những người giúp việc, mà cho cả loài người, rằng: Phải sẵn sàng. Dù Con có nói gì: ”Hãy làm theo lời Anh ta nói.”
Houston, 02/03/2005
Nguyễn đức Khang
_______________________________
Ghi chú:
Tên “ Cana” trong tiếng Dothái, có nghĩa là cây sậy, cây lau.
2Xem thêm Mt 26:61; 27:40, Mc 14:58 ; 15:29, Lc 24:21.46 ; TđCv 6:14 ...
3 “Après deux jours il nous fera revivre, le troisième jour il nous relèvera et nous vivrons en sa présence.” (Os 6:2)
4 “Gaudeamus et exultemus et demus gloriam ei quia venerunt nuptiae agni et uxor eius praeparavit se”(Kh 19:7).
5 “Ce jour-là, les montagnes dégoutteront de vin nouveau et les collines ruisselleront de lait” (Joël 4,18 ; 2,24 ; xem thêm Is 25,6 ; 55,1 ; Os 14,8).
6 “Venez manger de mon pain et boire le vin que j'ai préparé pour vous ! Quittez votre stupidité et vivez enfin intelligemment !”(Pr 9:6).
7 “Vous tous qui avez soif, venez acheter sans argent, recevez gratuitement le vin et le lait... prêtez l'oreille et vous vivrez !” (Is 55:1-3).
8 Cách Ngôn 8:17
9 Cách Ngôn 8:34
10 Ga 1:38
11 Ga 1:39 ; xem thêm Si 6:36 ; Jn 14:1-3
12 Xem Mt 26:26 ; Mc 14:22 ; Lc 22:19 ; 1Co 11:24 .
13 Jn 19:26
14 “Ut scriptura impleatur dicens partiti sunt vestimenta mea sibi et in vestem meam miserunt sortem et milites quidem haec fecerunt”(Ga 19:23).
15 “Inimicitias ponam inter te et mulierem et semen tuum et semen illius ipsa conteret caput tuum et tu insidiaberis calcaneo eius .”(Stk 3:15)
16 Ga 8,44. Xem thêm Ga 6,70 ; 13,2.27.
17 Ga 8,23.37.46.58.
18 “Maintenant le prince de ce monde va être jeté dehors et moi, élevé de terre j'attirerai tous les hommes à moi”(Ga 12,31.32)
19 Nếu dịch sát từng chữ, phần chú giải của bản dịch ấy đề nghị phải dịch thành " Ti emoï kaï soï -What is this to me and to you?" Đây là một kiểu nói Do thái biểu lộ một xung khắc
Judges 11:12 Vua Jephthah gửi sứ giả tới Vua ngườì Ammonite để điều đình: " Ti emoï kaï soï -What have you against me that you come to fight with me in my land?"
2 Sử Ký 35:21 Vua Neco, Ai cập, gửi sứ giả tới Vua Josiah, nói rằng: " Ti emoï kaï soï - What quarrel is between us, king of Judah? I have not come against you this day, for my war is with another kingdom, and God has told me to hasten. Do not interfere with God who is with me, as otherwise he will destroy you."
1 Vua 17:18 Bà goá ở Zarephath nói với Tiên tri Elijah, " Ti emoï kaï soï - Why have you done this to me, O man of God? Have you come to me to call attention to my guilt and to kill my son?"
Hoặc nói lên sự phản đối, không có gì chung giữa hai bên
Hôsea 14:9 Tiên tri Hôsêa nói :“Ephraim! Ti emoï kaï soï -What more has he to do with idols? I have humbled him, but I will prosper him. "I am like a verdant cypress tree"-- Because of me you bear fruit!;
2 Vua 3:13 Tiên tri Elijah nói với Vua Israel: " Ti emoï kaï soï ,What do you want with me? Go to the prophets of your father and to the prophets of your mother." "No," the king of Israel replied. "The LORD has called these three kings together to put them in the grasp of Moab."
Ma quỷ cũng nói với Chúa Giêsu như thế:
Mc 1:24 Người bị quỷ ám ở Capernaum la to: " Ti emoï kaï soï - What have you to do with us, Jesus of Nazareth? Have you come to destroy us? I know who you are--the Holy One of God!"
Mc 5:7 Người bị quỷ ám ở Gerasenes gào lên to tiếng: " Ti emoï kaï soï - What have you to do with me,Jesus, Son of the Most High God? I adjure you by God, do not torment me!"
20 “L'heure vient où ce n'est ni sur cette montagne de Samarie, ni à Jérusalem que vous adorerez le Père. (Ga 4.21). Mais l'heure vient, elle est là, où les vrais adorateurs adoreront le Père en esprit et en vérité; tels sont, en effet, les adorateurs que cherche le Père. (Ga 4.23)
21 "Je vous le dis, l'heure vient _ et maintenant elle est là _ où les morts entendront la voix du Fils de Dieu et ceux qui l'auront entendue vivront. Que tout ceci ne vous étonne plus! L'heure vient où tous ceux qui gisent dans les tombeaux entendront sa voix” (Ga 5:25.28 )
22 “Ils cherchèrent alors à l'arrêter, mais personne ne mit la main sur lui parce que son heure n'était pas encore venue". (Ga 7:30).
23 "Elle est venue, l'heure où le Fils de l'homme doit être glorifié”(Ga 12:23).
24 "Maintenant mon âme est troublée, et que dirai-je? Père, sauve-moi de cette heure? Mais c'est précisément pour cette heure que je suis venu.( Ga12,27).
25 “sciens Iesus quia venit eius hora ut transeat ex hoc mundo ad Patrem cum dilexisset suos qui erant in mundo in finem dilexit eos” (Ga13:1) “Ecce venit hora et iam venit ut dispergamini unusquisque in propria et me solum relinquatis et non sum solus quia Pater mecum est” (Ga16:32) “Haec locutus est Iesus et sublevatis oculis in caelum dixit Pater venit hora clarifica Filium tuum ut Filius tuus clarificet te” (Ga 17:1)
26 “Et mulier fugit in solitudinem ubi habet locum paratum a Deo”(Kh 12:6)
27 “Au milieu de vous se tient quelqu'un que ni vous ni moi ne connaissons.”(Ga 1:26)
28 “Ut scriptura impleatur dicens partiti sunt vestimenta mea sibi et in vestem meam miserunt sortem et milites quidem haec fecerunt “(Ga 19:23)
29 “Inimicitias ponam inter te et mulierem et semen tuum et semen illius ipsa conteret caput tuum et tu insidiaberis calcaneo eius” (Stk 3:15).
30 “Maintenant le prince de ce monde va être jeté dehors et moi, élevé de terre j'attirerai tous les hommes à moi” (Ga 12,31.32)
31 “ Au commencement, était le Verbe (la Parole), et le Verbe était tourné vers Dieu, et le verbe était Dieu” (Ga 1:1)
32 “ Au commencement, Dieu créa le ciel et la terre... et la terre était informe et vide... et Dieu dit... ” (Stk,1:1).
|