Vụ án mạng đầu tiên Nguyễn Đức Khang 63
1-
Tiếp nối những bài tản mạn về cơn cám dỗ đầu tiên, nhà cháu lẩn thẩn đọc tiếp những hàng Kinh Thánh sách Sáng thế ký, kể lại những gì xảy ra ngay sau khi con người, Adam và Eva, bị đuổi ra khỏi vườn Eđen.
Tất cả chúng ta đều biết chuyện gì xảy ra kế tiếp. Thê thảm và kinh khủng đã đành, mà vụ việc lại xảy ra giữa hai anh em ruột với nhau. Hơn nữa dường nhưnó xảy ra bất chợt Thế mới là đau đớn !
Nào, mời các Bác đọc lại câu chuyện. Chúng ta thường chỉ đọc câu chuyện thương tâm này một cách riêng lẽ. Thói quen này khiến cho chúng ta không nắm bắt được những liên quan thú vị giữa hai biến cố quan trọng nhất trong buổi đầu lịch sử loài người :
Vườn Eden và Cánh Đồng Máu có nhiều tương quan
Nhà cháu cố ý ghi lại đây phần cuối câu chuyện cám dỗ và bi kịch của anh em gia đình Ađam: Các Bác chịu khó đọc lại một lần suốt phần trích dẫn, thử xem có khám phá ra được những liên quan giữa các câu Kinh Thánh này không ?
“8 Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa.9 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu? "10 Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn."11 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "12 Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn."13 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế? " Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn."14 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán với con rắn:
"Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất
trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú.
Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.
15 Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà,
giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy;
dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."
16 Với người đàn bà, Chúa phán:
"Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén;
ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con.
Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."
17 Với con người, Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: "Ngươi đừng ăn nó",
nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi;
ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi,
mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.
18 Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng.
19 Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn,
cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.
Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
20 Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.21 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ.22 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi."23 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra.24 Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.
1 Con người ăn ở với E-và, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Ca-in. Bà nói: "Nhờ ĐỨC CHÚA, tôi đã được một người."2 Bà lại sinh ra A-ben, em ông. A-ben làm nghề chăn chiên, còn Ca-in làm nghề cày cấy đất đai.3 Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ĐỨC CHÚA.4 A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. ĐỨC CHÚA đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông,5 nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Ca-in giận lắm, sa sầm nét mặt.
6 ĐỨC CHÚA phán với Ca-in: "Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt?7 Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó."
8 Ca-in nói với em là A-ben: "Chúng mình ra ngoài đồng đi! " Và khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến giết A-ben, em mình.
9 ĐỨC CHÚA phán với Ca-in: "A-ben em ngươi đâu rồi? " Ca-in thưa: "Con không biết. Con là người giữ em con hay sao? "
10 ĐỨC CHÚA phán: "Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta!11 Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra.12 Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất."
13 Ca-in thưa với ĐỨC CHÚA: "Hình phạt dành cho con quá nặng không thể mang nổi.14 Đây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con."
15 ĐỨC CHÚA phán với ông: "Không đâu! Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy."
ĐỨC CHÚA ghi dấu trên Ca-in, để bất cứ ai gặp ông khỏi giết ông.16 Ông Ca-in đi xa khuất mặt ĐỨC CHÚA và ở tại xứ Nốt, về phía đông Ê-đen.
(Stk 3: 8-4:16)
2-
Bây giờ chúng ta bắt đầu với câu đầu tiên trong câu chuyện :
“Bà thụ thai và sinh ra Cain. Bà nói: “Nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người.” (Stk 4:1)
“L'homme connut Eve, sa femme; elle conçut et enfanta Caïn et elle dit : J'ai acquis un homme de par Yahvé.” (BJ)
“Adam vero cognovit Evam uxo rem suam, quae concepit et peperit Cain dicens: “Acquisivi virum per Dominum”.( Nova Vulgata)
“The man had relations with his wife Eve, and she conceived and bore Cain, saying, "I have produced a man with the help of the LORD."(NAB)
“And the man knew Eve his wife; and she conceived and bore Cain, and said: 'I have gotten a man with the help of the Lord.' ( Do thái)
Bản New American Bible lưu ý chúng ta chi tiết “chơi chữ” sau đây ở phần chú thích: Tên Do thái của Cain đọc là “kayin -Cain" còn động từ trong câu nói của bà Eva là “kaniti - I have produced". Đọc theo âm tiếng Do thái chúng ta có :
…vateled et kayin, vatomar: “kaniti ish et hashem. ”
Nghĩa là sau khi cho ra đời kayin, Bà Evà nói: “kaniti ish et elokim. ”
Như thế cái tên “Cain – kayin”, là do người mẹ, bà Eva, giải nghĩa từ sự kiện bà “sở đắc –kaniti- acquired”được người con ấy từ Thiên Chúa.
Bà có thể nói: “ baratiish et hashem –Tôi đã tạo dựng ra , created, một người với Chúa”, hay nói : “yatzarti ish et hashem - Tôi đã làm nên -formed một người với Chúa.
Nhưng bà không nói thế. Bà không dùng hai động từ đó. Mà bà dùng động từ “sở đắc” Bà nói: “Tôi sở đắc, kaniti, một người với Chúa- I have acquired a man with God. ”
Những người khác trong Kinh Thánh sau này thường được người khác, bố, đặt tên cho như trường hợp của Ishmael, Moses và Samuel. Nhưng Cain thì không như thế. Không ai đặt tên cho ông. Ông sinh ra là Cain rồi. Kinh Thánh ghi: “Bà thụ thai và sinh ra Cain.” (Stk 4:1)
Tên là người. Điều này lại càng đúng trong Kinh Thánh. Bà Eva đã cắt nghĩa con người Cain khi giải thích cái tên ấy bằng động từ “sở đắc, thủ đắc – kaniti –acquired “ nghĩa là sở hữu, tậu được, làm chủ, như sở hữu ruộng đất
…vateled et kayin, vatomar: “kaniti ish et hashem. ”
Câu kế tiếp cho chúng ta thêm một chỉ dẫn về con người Cain: “Còn Cain làm nghề cày cấy đất đai. ” (Stk 4:2).
Tên, người, nghề nghiệp của Cain quả thực có liên quan mật thiết tới đất đai.
3-
Abel thì khác, hoàn toàn ngược lại .
Tên Abel, trong tiếng Do thái, đọc là “hevel” nghĩa là , “hơi thở - breath” , hay đúng hơn hevel là thoáng hơi nước khi con người thở ra trong ngày đông lạnh. Thoáng thấy đó rồi mất ngay. Như là phù hoa.
Hevel còn là một từ được dùng nhiều trong Kinh thánh. Đó là từ đầu tiên của sách giảng Viên. Vua Salomon, người khôn ngoan nhất thiên hạ, tuyên bố: “Phù hoa của mọi phù hoa. Tất cả chỉ là phù hoa - hevel havalim - Vanity of vanities, all is vanity” Nói cách khác, tất cả chỉ là hơi thở chóng tan !
Nếu nhái theo câu hát nổi tiếng, chúng ta có thể nói: “Khi mẹ đặt tên cho người, mẹ đặt phận số vào nôi !” Phận số của Abel là như havel.
Đất đai thì trường cửu, còn hơi thở thì chóng tan!
Nhận ra như thế, chúng ta thấy dường như kết cục câu chuyện đã được gồm tóm ngay trong hai câu đầu tiên này, khi giới thiệu các nhân vật liên quan trong câu chuyện .
Hevel – Abel, hơi thở, chết đi. Hevel chóng qua, tạm bợ, mỏng manh, phù du. Havel làm người chăn nuôi súc vật.
Còn Cain, người sở đắc, tìm cách thủ đắc đất đai và những gì đất đai cung cấp. ông làm nghề nông, canh tác đất đai.
4-
Nhưng điều thú vị chúng ta cần lưu ý đó là nhân vật thứ ba, người mẹ, bà Eva, với câu sảng khoái, đầy phấn chấn, thốt lên khi sinh đứa con đầu lòng: “Kaniti ish et hashem. ”
Đừng quên đây là vụ sinh nở đầu tiên của nhân lại. Bà Eva sinh con đầu lòng. Việc mang thai và sinh nở lạ lùng và kỳ diệu quá đến độ bà Evà đã thốt lên : - chúng ta nghe cho kỹ câu bà nói –
“Kaniti –tôi đã sở đắc-
Ish - một người
Et- qua/với/bằng/như
Hashem- Thiên Chúa.”
Trước khi tản mạn thêm về câu nói của bà, chúng ta thử đặt mình vào vị trí của bà Evà.
Nhà cháu và qúy vị đàn ông, không bao giờ cảm nghiệm được hết sự diệu kỳ của việc mang thai và sinh nở. Các bà, những nhân vật chính của việc đồng sáng tạo này, nếu suy nghĩ kỹ càng cho thấu đáo, may ra mới ngạc nhiên đúng mức về chuyện sinh con.
Khoa học dù có tân tiến đến bao nhiêu, sẽ không bao giờ chế tạo ra được, bắt chước làm ra được cái tử cung, cái “cung lòng người phụ nữ” nơi cái trứng đậu thai, lớn lên, được sinh dưỡng, phát triển thành con người.
Đây là một công việc sáng tạo thực sự, mà người cha và cả người mẹ chỉ là những khán giả và là người cộng tác thụ động. Cả hai chỉ biết nhẫn nại chờ cho đủ chín tháng mười ngày.
Bà Eva, người phụ nữ đầu tiên, cũng là người đầu tiên nhận ra điều rất mực kỳ diệu ấy. Bà biết mình chỉ là người cộng tác, nên Bà không nói “barati ish et hashem – Tôi đã tạo dựng ra , created, một người với Chúa” hay “yatzarti ish et hashem - Tôi đã làm nên -formed một người với Chúa.”
Bà nhận ra vai trò đồng cộng tác của mình nên bà thốt lên: “Kaniti ish et hashem.”
Dường như cái hoài bão “trở nên như Thiên Chúa” trong vườn Eden, giờ đây đang được Thiên Chúa tỏ cho bà thấy trong chín tháng mười ngày mang thai: Bà đang “tạo ra” một con người đấy thôi. Như Thiên Chúa trong ngày sáng tạo!
Sau bảy ngày tạo dựng Thiên Chúa nghĩ ngơi. Nhường công tác cho con người tiếp tục. Ra đi cày cấy đất đai và sinh nở .
Bây giờ bà Eva đang kế nghiệp công trình sáng tạo con người .
Chúng ta cần nhận xét như sau: Chỉ có ngày đầu tiên là Thiên Chúa tạo dựng “ánh sáng” từ hư vô. Sau đó, từ những vật đã được tạo dựng trước đó: nước và đất, Ngài dựng nên mọi thứ khác:
“Thiên Chúa phán: " Phải có ánh sáng... ” c.3
Thiên Chúa phán: "Nước phía dưới trời phải. .” c.9
Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh thảo mộc.. ” . c.11
Thiên Chúa phán: "Nước phải sinh ... ” c.20
Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh ra...”c.24
Và từ đất, Ngài dựng nên Adong Eva, và người trao nhiệm vụ cho hai người: Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, chođầy mặt đất, và thống trị mặt đất. (c 28)
Hiểu ra đươc bài học ấy, tuy có hơi muộn, Bà Eva thốt lên: “Kaniti ish et hashem”
Giá mà bà mang thai và nhận được ngay điều kỳ diệu của sự sáng tạo con người đang xảy ra trong bụng bà vào những ngày còn trong vườn Địa đàng, hẳn bà hiểu rằng, mình đang như Thiên Chúa đấy thôi ! Cần gì phải nghe lời xúi bậy của Tên Lường Gạt ?
Từ trước đến giờ chỉ có một Đấng Sáng Tạo. Ngài đơn độc đảm nhận mọi việc tạo dựng từ cỏ cây cỏ muông thú cho đến cát biển sao trời. Nhưng nay Ngài đã có người đồng sự
Ngài ban cho Evà cộng tác vào việc sáng tạo.
Bởi thế mà Evà hưng phấn thốt lên: “Kaniti ish et hashem.”
Ý Bà muốn nói: “Đây, xem này, tôi cùng với Thiên Chúa. chúng tôi đã tạo ra con người bé tí này đây ! Tôi đã chia xẻ khả năng sáng tạo với Thiên Chúa.”
5-
“Kaniti ish et hashem.”
Bây giờ chúng ta lưu ý đến từ cỏn con “et” súyt bị chúng ta bỏ sót trong câu nói của bà Eva .
Trong tiếng Pháp và tiếng Anh, động từ nào có trực tiếp túc từ thì cấu trúc của câu nói là verbe-complement d’objet direct, (Verb- Direct object). Hai ngữ tố này nằm liền sát bên nhau, không có ngữ tố nào giữa. Ví dụ: “Je vois le ciel” hay “I kick the ball”
Nhưng tiếng Dothái có từ tố bắt cầu giữa động từ và trực tiếp túc từ. Điều đó đôi khi làm phong phú thêm cho ý nghiã của câu văn cần diễn tả, đôi khi lại tố giác một thay đổi tinh tế trong ý nghĩa của câu nói :
Điều thú vị ở câu nói này nằm ở chỗ, bà Eva có thể nói: “kaniti ish et hashem” hay “kaniti ish im hashem.”
“Et” và “im” , cả hai đều có nghĩa “với- avec-with” . Nhưng ngữ tố “et” nói lên sự phụ thuộc về dụng cụ, còn ngữ tố “im” nói lên sự phụ thuộc về nguyên nhân.
Nghĩa là nói “kaniti ish et hashem” đồng nghĩa với: “Nhờ Chúa (như một dụng cụ), tôi sở đắc được một con người.”
Còn nói “kaniti ish im hashem” là muốn nói “Thiên Chúa và tôi, chúng tôi là đồng tác giả khiến tôi sở đắc được một con người.”
Đứa con đầu tiên do bà tạo ra qua việc sinh nở rất quan trọng với Bà. Bà tự hào về nó. Bà hãnh diện được ngang hàng với Thiên Chúa tạo hóa, nếu bà dùng chữ “im”. Nhưng bà kín đáo muốn chiếm phần hơn, nên bà dùng chữ “et”.
Nói cho ngay, cũng khó mà trách được bà, vì mọi điều kiêntự nhiên đều cho phép bà tự hào vì khả năng của mình: Chồng đặt tên cho bà là “Eva- Chavah” nghĩa là “Người Mẹ của Chúng Sinh (chai)”. Đây là tên riêng của bà, trong khi “ađam” chỉ là tên chung chỉ “con người. Chỉ mình bà thụ thai. Adam dĩ nhiên là không rồi ! Bà mang nặng chín tháng mười ngày.
Đứa con đầu là niềm vui và là niềm tự hào thì đúng rồi.
Hơn nữa bản văn không nhắc đến chi tiết bà Evà có đau dạ khi chuyển bụng lâm bồn không. Lời nguyền xưa trong vườn Điạ đàng dưòng như đã trôi vào quá khứ. Hoặc có khi là do niềm vui lúc sinh con đã lấn át cả nỗi đau lúc chuyển dạ.
Không nghe thấy tiếng khóc vì đau đớn, nhưng chỉ nghe tiếng cười tự hào lúc sinh Cain .
6-
Khi sinh Abel, bà Eva không còn thốt lên lời nào, không nói lên niềm tự hào.
“Bà lại sinh ra Abel, em ông. ” Kinh thánh chỉ đơn giản ghi lại thế.
Abel sinh ra chỉ như một cái bóng của anh Cain. Cain là đại thụ, còn Abel chỉ như cỏ cú !
Có phải là hai anh em sinh đôi hay không ? Chúng ta không biết chắc, tuy có người nghĩ thế . Có phải vì có thêm người em, Abel, nên Cain không còn được cha mẹ cưng chiều như trước, vì thế ông âm ỉ một nỗi giận hờn, một lòng ganh ghét ? Chúng ta có quá ít chứng cớ để quyết chắc thế.
Có điều Abel chỉ được nhắc đến trong có bốn câu ngắn: lúc sinh ra, nghề nghiệp, lúc dâng lễ vật và cái chết .
“Abel làm nghề chăn chiên, còn Cain làm nghề cày cấy đất đai.”
Kinh thánh bắt đầu liệt kê danh sách cách nghề thịnh hành lúc bấy giờ: Chăn nuôi và đồng áng. Hai nghề cơ bản mà các nền văn minh đều bắt nguồn.
“Abel làm nghề chăn chiên”.
Nghề của chàng phản ánh lời truyền của Thiên Chúa trong vườn Địa đàng: “Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất." ... Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, vàthống trị mặt đất Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." (Stk 1:26,28 )
Đó là tình hình trước khi xảy ra chuyện ăn trái cấm. Lúc ấy con người mang hình dạng “giống hình ảnh Thiên Chúa”. Thế giới đang hài hoà. Và mọi chuyện, mọi sự đang “rất tốt đẹp.”
“Còn Cain làm nghề cày đấy đất đai .”
Nghề của Cain phần nào đã được tiên báo trong vườn Địa đàng: “Ngày ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm ra đất và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên, vì ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai.” (Stk 2: 5)
Sau khi con người sa ngã, việc đồng áng trở thành nghề chính: “ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra.” (Stk 3:23)
Như thế phải chăng Cain, hậu duệ đầu tiên của loài người, đã chăm chỉ vâng nghe lời Thiên Chúa, thi hành đúng như điều Thiên Chúa ấn định: “cày cấy đất đai” ?
Mà có lẽ như thế thật.
Nhưng đó là lúc ban đầu.
Vì cái tên “Cain” của ông có thể đã cung cấp cho chúng ta cái lý do gây nên chuyện . Như chúng ta đã nói “Cain – kayin” còn có nghĩa là “kaniti -sở hữu .“ Cain không chỉ “cày cấy đất đai”, ông còn “sở hữu đất đai.”
Để chiếm hữu đất đai, cho kẻ khác biết phần đất đai đó là của mình, ông phải rào dậu, chắn lối, vây bọc đất đai bằng hàng rào.
Nhưng chẳng có người chăn đoàn súc vật nào lại chấp nhận cho đoàn vật của mình bị chắn lối, hay bị hạn chế. Với họ, đất đai phải là không gian rộng mở cho đoàn vật của mình thong dong ăn cỏ.
Abel – hơi thở phù du cũng thế. Hàng rào bao bọc phần đất sở hữu cũng đồng nghĩa với rào cản chắn lối tự do .
Sự khác biệt – và biết đâu cũng là sự xung khắc không chừng – còn sâu xa hơn, nếu chúng ta tản mạn thêm một chút .
Nghề nông cần đầu óc nhiều hơn. Cain phải biết nhìn trăng sao đọc thời tiết, biết lúc nắng lúc mưa, biết tính toán ngày gieo ngày hái. Cain làm hôm nay, nhung phải tính toán dành dụm thóc giống cho ngày mai. Cain cần nhìn xa thấy trước.
Cain không thể đi đây đó lang thang du mục, nhưng ông phải gắn liền với ruộng vườn đất đai. Ông phải định cư trên hay bên đất đai của ông.
Ông cần đất đai để canh tác, nhưng ông cũng cần nước nhiều hơn. Nếu ruộng vườn của ông không gần sông hồ mà phải ăn nước trời, ông muốn phần nào ao ước làm chủ được nắng mưa.
Nói tắt một lời, Cain làm chủ. Và vừa tự lực, ông vừa tự hào.
Abel chăn đoàn súc vật nhà nhã hơn. Đàn vật đi tới đâu, Abel du mục tới đó. Nguồn thực phẩm của ông là đoàn vật, nên ông chẳng lệ thuộc vào đất đai hay nhà cửa. Abel chỉ cần dẫn đoàn vật tới nơi có cỏ ngon và nguồn nước tốt . Rồi để mặc cho trời.
Abel đơn thuần. Cain phức tạp.
Abel vô tư, Cain tính toán.
Khác biệt rõ nét, nhưng chưa hẳn là xung khắc, cho đến khi ...
7-
Cho đến khi
“Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ĐỨC CHÚA. (Stk 4:3)
In the course of time it came to pass that Cain brought of the fruit of the ground an offering unto the Lord, (Dothái)
And in process of time it came to pass, that Cain brought of the fruit of the ground an offering unto HaShem. (JPS)
Factum est autem post aliquot dies ut offerret Cain de fructibus agri munus Domino. (Vulgata)
Le temps passa et il advint que Caïn présenta des produits du sol en offrande à Yahvé, (BJ)
In the course of time Cain brought an offering to the LORD from the fruit of the soil, (NAB)
Sau một thời gian bao lâu, chúng ta không biết. Lúc đó Cain Abel đã bao tuổi, chúng ta cũng không hay. Trình thuật chỉ dùng một mệnh đề chỉ thời gian rất mông lung: “Thời gian trôi qua, và xảy ra là .. .” Đây là phần đầu của câu Stk 4:3 theo văn phong tiêu biểu Do thái. “In the course of time it came to pass ...” Cain dâng của lễ cho Thiên Chúa .
Chúng ta thấy có gì đặc biệt chưa ? Cain là người đầu tiên trên thế gian dâng của lễ cho Thiên Chúa Rõ ràng ông có sáng kiến nghĩ ra việc tế tự. Thế có đáng quý và đáng khen không kia chứ !
Ngày nay cái bánh xe tròn tròn biết lăn là chuyện thông thường. Nhưng người đầu tiên nghĩ ra cái bánh xe mới là kỳ tài.
Cain kỳ tài nghĩ ra chuyện tế tự, làm gương cho hàng triệu triệu người trong nhiều tôn giáo bắt chước ông mà dâng cúng cho Thượng Đế.
Thiên Chúa có gợi ý chuyện tế tự như thế không, hay Ngài có cần tế tự không ?
Cho đến lúc này KinhThánh không cho chúng ta một chi tiết nào cho phép kết luận Thiên Chúa “gợi ý” việc tế tự hay cần đến nó.
Mà nói cho ngay, đứng về phía Thiên Chúa mà xét, thì chuyện tế tự chưa hẳn là đáng quý, mà có thể là đáng...nghi ngờ. Tùy lòng con người lúc dâng tiến.
Lễ vật có thể là như những giọt nước mắt xúc cảm chân tình chảy ra tự đáy lòng tạ ơn hay thờ phượng. Hay chúng chỉ là những cái phong bì dấm dúi theo đơn từ .
Với Cain cầy cấy đất đai, ông quá biết rằng những cơn mưa vào đúng lúc rất cần cho mùa màng của mình. Nên chúng ta dám rụt rè đưa ra kết luận là dù gì đi nữa thì chuyện dâng lễ vật rất cần thiết đối với Cain.
Ít ra Cain cần dâng lễ hơn là Abel .
Bởi thế, “Thời gian trôi qua , xảy ra chuyện là Cain lấy hoa màu của đất đai mà dâng lên cho Thiên Chúa. ”
Không biết Cain dâng lễ với tâm tình nào, mà chỉ mãi đến lúc cuối cùng, vào lúc cuối ngày, sau “khi thời gian đã trôi qua - miketz yamim- In process of time” ông mới đem của lễ đi dâng.
Chúng ta phải lưu tâm tới chi tiết chỉ hiện rõ trong nguyên bản Do thái: “Thời gian trôi qua - miketz yamim”-
Miketz yamim- In process of time - theo nghĩa đen có nghĩa là "vào cuối ngày".
Ấy là một lẽ . Cain dâng lễ vào lúc muộn màng.
Chi tiết thứ hai quan trọng hơn. Tuy Abel chỉ là người theo sau , bắt chước ông dâng lễ, nhưng Abel mang những lễ vật hàng đầu mà mình có: “A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. ” Những “con chiên đầu lòng”. Nghĩa là những lễ vật tốt nhất.
Cain là người đầu tiên nghĩ ra việc dâng lễ. Nhưng lại không đem dâng được những lễ vật tốt nhất. Cain chỉ “lấy hoa màu đất đai” mà dâng. Bản văn không nêu rõ những lễ vật của Cain là “thượng hạng” hay “đầu mùa”, mà chỉ là “chút hoa màu nào đó”. Rất bình thường, nghĩa là rất tầm thường: quelque produits, c’est-à-dire quelconque !
Điều này cho ta thoáng hé cho ta thấy tấm lòng của Cain. Ít là so với Abel.
8-
Nếu dạn mồm dạn miệng, chúng ta có thế nói rằng chương trình của Thiên Chúa đối với con người là “canh tác đất đai”:
Chúng ta đọc lại hai câu KinhThánh mà xem :
“ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai. ” (Stk 2: 5) và “ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra.” (Stk 3:23)
“ Canh tác” và “ cày cấy” chứ không “ làm chủ”, “ sở hữu”. Mà như chúng ta đã phân tích khi Eva sinh con thì “ Eva sinh ra Cain”, nghĩa là khi sinh ra, Cain đã là Cain rồi, nghĩa là Cain đã có cái chủ tâm sở đắc từ lúc ra đời .
Cain chủ tâm làm chủ sở hữu đất đai hơn là canh tác. Cain không sở dụng, nhưng là sở hữu.
Vậy khi dâng lễ Cain còn muốn khiển dụng Thiên Chúa, để sở hữu Ngài, điều khiển Ngài, hay ít ra kéo Ngài về phe mình, cho mưa xuống nắng lên tùy ý....mình.
Tắt một lời Cain muốn “như Thiên Chúa” vậy , tuy không “ là Thiên Chúa”.
Phần Abel, khi chăm sóc đàn vật, ông chỉ điều khiển chúng, như đã được phân định :
" Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất." ... Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất. " (Stk 1:26,28 )
Bởi lẽ Abel, thoáng hơi phù du, chẳng tân toan làm chủ. Đã phận là thoáng hơi nước phù du, thoắt còn thoắt mất, thì bận tâm chi sở hữu đất đai !
Đã vậy, đã biết phận mình phù hoa, mà khi dâng lễ Abel lại dâng lên “ con vật đầu lòng béo tốt nhất ” cho Thiên Chúa. Người bàng quan hẳn nhận ra được tấm lòng của người dâng. Cách dâng lễ qúy hơn của lễ .
Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Không có chỗ nào trong trình thuật này cho thấy của lễ của Abel xứng đáng hơn của lễ của Cain. Chúng ta chỉ biết rằng Abel dâng những lễ vật tốt nhất mà mình kiếm ra. Nhưng cũng rất có thể những của lễ tuy là bình thường của Cain cũng giá trị hơn, ngon hơn, tốt hơn lễ vật của Abel. Điều này cũng chỉ là giả thuyết.
Những điều chắc chắn chúng ta có thể kết luận là: Abel đã mang dâng những thứ
tốt nhất mà mình kiếm ra mà Cain thì không. Hay là chưa .
Cain đã không tận tâm tận lực.
Cain còn giữ lại cho mình sở hữu thứ tốt nhất !
Chúng ta không so sánh hai anh em với nhau , nhưng phải so sánh mỗi người với chính họ: Họ đã hết mình, hết lòng khi dâng lễ không ?
Điều họ đã làm, có phải là điều tốt nhất mà họ có thể làm cho Thiên Chúa ?
Có lẽ Thiên Chúa cũng đã nhìn vấn đề như thế .
9-
Nên kết quả là :
“ĐỨC CHÚA đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông,5 nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. ”
“Ad Cain vero et ad munus illius non respexit.” (Vulgata)
“Mais il n'agréa pas Caïn et son offrande.” (BJ)
“And HaShem had respect unto Abel and to his offering; but unto Cain and to his offering He had not respect.” (Do thái)
“The LORD looked with favor on Abel and his offering, 5 but on Cain and his offering he did not look with favor.” (NIV)
Chi tiết thú vị chúng ta cần lưu tâm là bản Do thái không nói Thiên Chúa “từ khước” hay “loại bỏ” - reject - rejeter , mà chỉ nói “không đoái nhìn”, “không coi trọng” - non respexit – not respect – ne pas agréer.
Bản văn không cho biết, lúc bấy giờ, Thiên Chúa biểu hiện sự “đoái nhìn” hay chuẩn thuận của mình bằng cách nào, cho lửa từ trời xuống hoả thiêu lễ vật, hay đích thân tỏ cho người dâng lễ biết ý kiến của mình.
Nhưng việc chuẩn thuận xảy ra rõ ràng, nên Cain hiểu rằng Thiên Chúa không đoái nhìn Cain và lễ vật của ông. Cain hiểu“ không đoái nhìn” là “loại bỏ”.
Bản tiếng Việt dịch sát động từ “ respicio, is, respexi , respectus sum, respicere” từ bản Vulgata Latinh, cho chúng ta một chi tiết thú vị : động từ respicere này vừa chỉ một hành vi thể lý: “ quay mắt nhìn lại”, “đoái nhìn”, vừa diễn tả một hành vi tâm lý: “ chuẩn thuận”, “coi trọng”, “đoái nhìn đến”.
Động từ “đoái nhìn” này nói lên chính xác tiêu chuẩn mà Thiên Chúa dùng để chấp thuận của lễ, mà cũng là chi tiết chúng ta cần lưu tâm: đó là lối xếp đặt câu nói của Thiên Chúa,. “ĐỨC CHÚA đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông,5 nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. ”
Bản KinhThánh tế nhị nhắc đến người dâng lễ trước : “đoái nhìn đến A-ben,” rồi mới nói tới của lễ: “và lễ vật của ông”: Một nhấn mạnh kín đáo rằng Thiên Chúa coi trọng con người, xét đến con người trước khi xét đến lễ vật.
Khi từ khước cũng vậy : “nhưng Ca-in- người dâng lễ - và lễ vật của ông - của lễ - thì Người không đoái nhìn.”
Lại nữa, bản văn Kinh Thánh chỉ nhắc chung là "lễ vật" dù từ chối hay chấp thuận, mà không hề nêu rõ lễ vật loại gì, hạng nhất hay hạng xoàng, hàng nhập cảng hay hàng nội địa, béo tốt hay sang trọng. Điều này lại càng nhấn mạnh rằng chính con người mới là điều quan trọng khi dâng lễ.
Vậy đã có cái gì không ổn hay không tốt nơi Cain rồi, trước khi ông dâng lễ .
10-
Điều không tốt ấy lộ rõ ra ngay, khi: “Cain giận lắm, và sa sầm nét mặt.” Kinh Thánh lạnh lùng kể tiếp câu chuyện .
Sao Cain lại mau giận vậy ?
Cain “ giận lắm” vì dường như Cain dựa vào sự kiện mình là người có công đầu tiên nghĩ ra việc dâng lễ vật, mà sao Thiên Chúa lại không đoái nhìn ?
Nói cho cùng, chuyện Cain đầu tiên nghĩ ra việc dâng của lễ, chỉ là theo thứ tự thời gian.
Cain là người đầu tiên. Đúng. Nhưng không hẳn vì thế mà Cain là người duy nhất nghĩ ra được điều ấy! Abel cũng nghĩ ra được hành vi dâng lễ. Bản văn chỉ kể người trước người sau, chứ không hề ghi rõ rằng Abel bắt chước Cain mà dâng của lễ đâu !
Abel dâng lễ sau, hẳn rút tỉa đưọc kinh nghiệm của người đi trước, nên đã thực hiện điều ấy tốt hơn, đã “làm tốt – do well-” việc dâng lễ. Ông đã thành tâm hơn và dâng của lễ hạng nhất .
Cain thực hiện việc dâng lễ đầu tiên. Nhưng lại tắc trách, nếu không nói là “ cẩu thả”. Vì ông chỉ dâng những của lễ xoàng xĩnh, hạng thường trong số những của cải, những gì mình “ sở đắc”.
Chúng ta có thể nói thế vì dựa vào câu hỏi “xét mình” của Thiên Chúa sau này : “ Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt?7Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không?
Về phần Abel, khi thấy anh Cain có sáng kiến dâng lễ, Abel có tức giận hay ghen tỵ không ? Thưa không ! Abel chỉ làm theo. Làm theo nhưng không mù quáng bắt chước. Nếu mù quáng bắt chước, Abel sẽ theo gót của Cain mà dâng những sản phẩm từ đất đai như luá thóc ngô khoai. Mà cũng chỉ dâng những ngũ cốc hạng xoàng.
Tuy bắt chước - nếu vì làm sau mà được cho là bắt chước việc dâng lễ - thì Abel bắt chước “việc làm” nhưng không bắt chước “ người” và “ cách làm”. Abel không “ học đòi” theo tâm địa và bản tính của Cain. Abel dâng những phẩm vật của riêng mình - con vật - theo cách của mình – con vật đầu lòng, béo tốt nhất -.
“ Cain giận lắm và sa sầm nét mặt”.
Nghĩa là cơn giận hẳn là mạnh mẽ vũ bão đến độ nó bày tỏ cụ thể qua bộ dạng của ông
“ sa sầm nét mặt”. Nghĩa là ánh mắt của ông tối sầm lại. Cửa sổ cho thấy linh hồn ông, tối sầm lại.
Nếu phân tách tâm lý của ông ta có thể suy như sau. Giận dữ vì mắc cở do tự ái bị tổn thương. Nghĩ mình là anh hai trong nhà, con trai trưởng trong bộ tộc, hãnh diện với của cải và cơ ngơi đất đai do mình trồng trọt canh tác, Cain hãnh diện vì mình là người đầu tiên giao tiếp với Thiên Chúa qua việc tế tự.
Hẳn ông muốn, và nghĩ rằng mình đáng đượclà người đầu tiênThiên Chúa chuẩn nhận lễ vật.
Ông tính một đàng, sự thể lại xảy ra một nẻo.
Thằng em thứ Abel kia, biếng nhác, chẳng làm gì cực nhọc, chuyên môn theo đuôi đàn vật, và “theo đuôi” mình trong việc dâng lễ, lại hơn mình vì Thiên Chúa coi trọng nó, nhận lễ của nó.
Cain, người đầu tiên trong mọi sự, nhưng chỉ là người ở hạng hai dưới mắt của Thiên Chúa.
Ông chỉ nhìn và kết luận từ trong hàng rào vuông đất mình sở đắc. Còn Thiên Chúa, Ngài thấy từ mọi phía, cả bên ngoài hàng rào nhà ông, nơi đàn vật và Abel thong dong đi lại trong mênh mông không gian mặt địa cầu.
Tự ái Cain bị tổn thương, vì không ai xem trọng mình. Không chỉ “ mặt ông sa sầm” mà tim ông sục sôi vì giận, vì ông cho rằng không chỉ tự ái mình bị tổn thương mà còn tin rằng chính bản thân mình cũng bị thương tổn.
Ông có thể giận ai bây giờ ?
Thiên Chúa, cho tới lúc này, vẫn vô hình và im lặng. Cain thấy ông không thể đụng chạm gì được tới Thiên Chúa.
Ông không nhìn lên được.Thì ông nhìn ngang. Để trút cơn giận.
Nhìn ngang, ông chỉ thấy Abel.
Sự bẽ bàng vì lễ vật của mình không được Thiên Chúa chuẩn nhận vẫn không chua chát bằng sự thực mình là “con đầu lòng” của Eva-Mẹ Chúng sinh mà lại kém hạng so với “con vật đầu lòng” thằng Abel phù du kia dâng cho Thiên Chúa.
Thiên Chúa nhận con vật đầu lòng, mà không chuẩn nhận lễ vật của người con đầu lòng !
Ông nhất quyết hễ cứ là người con đầu, thì điều gì cũng phải ở hạng đầu. Vậy mà “công” mình không “thành” bằng thằng thứ Abel .
“ Cain giận lắm và sa sầm nét mặt”. Từ trong lòng ông, nhìn qua con mắt cửa sổ linh hồn, ông quyết định chỉ còn có ba người trên thế gian.
Lần đầu tiên Kinh Thánh ghi nhận sự giận dữ, và bất (công) bình.
Và chúng ta thấy nhem nhúm chủ đề “ phế trưởng lập thứ” sau này thường gặp trong Kinh Thánh .
11-
Tuy tình trạng lúc bấy giờ bi đát, nhưng chưa phải là tuyệt vọng hay chết chóc.
Vì Thiên Chúa thấy vấn đề và can thiệp ngay. Chính Ngài đích thân đi nói chuyện với Cain.
“ Ca-in giận lắm, sa sầm nét mặt. 6 ĐỨC CHÚA phán với Ca-in: "Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt? ”
Hai câu đi liền nhau, nói lên tính cấp tốc trong hành động can thiệp của Thiên Chúa. Cơn nóng giận như lửa cháy. Chữa lửa là phải chữa cấp thời.
Ngay khi “ Cain giận” và “sa sầm nét mặt” thì Thiên Chúa hỏi ngay: “ Tại sao ngươi giận dữ ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt ? ”
Chả có lúc nào mà chúng ta thấy câu tục ngữ Việt Nam đúng như lúc này: “giận thì mất khôn”.
Thiên Chúa phân tích điều khôn ngoan cho Cain thấy:
“Halo im-teytiv se'et ve'im lo teytiv lapetach chatat rovetz ve'elecha teshukato ve'atah timshol-bo.” (Stk 4:6-7). (Nguyên văn Do thái)
“ If you do good, will there not be special privilege? And if you do not do good, sin is crouching at the door. It lusts after you, but you can dominate it.” (World ORT)
Is this not so - if you improve, there is forgiveness, but if you do not improve, sin rests at the entrance. Its desire is unto you, but you can dominate it."
Is it not the case that if you do well -- lift up! And if you do not do well -- sin lies crouching at the door, its desire is unto you, yet you can rule over it
Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó.” (CGKPV)
“Si tu es bien disposé, ne relèveras-tu pas la tête ? Mais si tu n'es pas bien disposé, le péché n'est-il pas à la porte, une bête tapie qui te convoite, pourras-tu la dominer ?” (BJ)
“If you do well, you can hold up your head; but if not, sin is a demon lurking at the door: his urge is toward you, yet you can be his master. "(NAB)
Các bản dịch có chút khác biệt, bởi vì theo ý kiến nhiều nhà chú giải, đây là một câu khó hiểu và khó chú giải nhất.
Nguyên văn Do thái có chút đặc biệt. Có ba câu dịch khác nhau như nhà cháu ghi lại ở ba câu tiếng Anh đầu tiên : “ If you do good, will there not be special privilege?- Is this not so - if you improve, there is forgiveness, - Is it not the case that if you do well -- lift up!
Tưởng thưởng, đặc ân, tha thứ, ngẩng lên, hay vực dậy - Chắc chắn ngữ cảnh bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Khuôn mặt ngươi sẽ “ ngẩng lên” được với đời. Người sẽ “ tự hào” mà nhìn được chung quanh .
Bản NAB tiếng Anh :
Theo tinh thần câu văn và ngữ cảnh, ta có thể hiểu hai cách:
“ If you do well, you can hold up your head - Nếu ngươi (đã) làm tốt thì (bây giờ) ngươi có thể ngẩng mặt lên rồi !” (chứ không ủ rũ như bây giờ)
Hay: “Nếu (bây giờ) ngươi làm tốt, ngươi (sẽ) có thể ngẩng mặt lên được. ” Thiên Chúa phân tích hiện trạng và khuyến khích đưa ra giải đáp cho cái bộ dạng thiểu não đang tố giác một hành vi không tốt trong quá khứ.
Bản tiếng Pháp của BJ : “ Si tu es bien disposé, ne relèveras-tu pas la tête ? - Nếu ngươi vui vẻ, ngươi lại không ngước mắt lên rồi sao ?”
Ngữ tố “Bien disposé” nếu hàm ý “envers quelqu’un” thì có nghĩa “có thiện ý với ai đó”.
Đối tượng ở đây có thể là Thiên Chúa, mà cũng có thể là Abel. Nếu hiểu đối tượng là Thiên Chúa, thì Cain đã không có thiện ý khi dâng lễ, (nên bây gờ mới ũ rũ thế ) mà nếu hiểu đối tượng là Abel thì Cain đang toan tính điều chi ghê gớm (nên không thể ngẩng mặt lên được).
Bỏ qua những chi tiết “nhức đầu” về ngôn ngữ, chúng ta thấy Thiên Chúa không hứa sẽ “tưởng thưởng” Cain nếu ông hành động tốt. Ngài chỉ nói trống: “ Nếu ngươi làm tốt, thì hãy – lift up!”
Ta có thể hiểu là “lift” cái lễ vật đang nằm trên bàn thờ “up”, mà cũng có thể là “lift” cái mặt của Cain đang sa sầm kia “up”. Mà cũng có thể hiểu là “lift” con người, hạnh kiểm, hành vi “up” .
Ngài cũng chẳng đưa ra một doạ phạt nào cho Cain nếu như Cain hành động không tốt!
Có chi tiết chúng ta cần lưu ý: Ngài không nói: “ Nếu ngươi làm điều xấu” , nhưng nói: “ Nếu ngươi không làm tốt”. Ngài đã quyết liệt nhấn mạnh rằng PHẢI luôn tích cực, tiến tới, “làm tốt” – do well - mà thôi. Nghĩa là chỉ có một hướng: Đó là hướng đi lên phía trước, tích cực, “hướng thiện”.
Không hề có chuyện trung dung, lưng chừng, hay dậm chân tại chỗ.
Chỉ cần tránh đừng làm điều xấu thôi , cũng không được. Ngài nói, “ Nếu ngươi không làm điều tốt,thì tội đã nằm chực ở cửa ”.
Như thế lời cảnh báo đã rõ ràng, đồng thời bày tỏ lòng ưu ái dành cho Cain. Thiên Chúa không hề nói cho Abel một lời nào, Ngài chỉ ngỏ lời với Cain thôi.
Chúng ta có thể thắc mắc rằng, thì cũng đành là một lần lên tiếng, thế tại sao Thiên Chúa không nói “rõ hơn” cho Cain biết ? Ngài có thể nói: “ Này Cain, ngươi đừng thực hiện tội ác đang toan tính trong đầu nữa”. Biết đâu đã tránh được một án mạng !
Nhưng nếu chúng ta lưu ý rằng đích thân Thiên Chúa nhấn mạnh hai lần “ Nếu ngươi làm tốt..” và “ Nếu ngươi làm không tốt..” thì rõ ràng Thiên Chúa đã nêu rõ hai tiêu chuẩn luân lý “ tốt” và “không tốt” mà Cain hẳn đã biết, tuy lúc ấy, sau biến cố vườn địa đàng mà Cain không chứng kiến -
Cain – và nghĩa là loài người – đã biết “tốt” là gì, và “không tốt” là gì. Vì khi Thiên Chúa nói thế, ông không hề yêu cầu giải thích.
Tuy chẳng ăn hay thèm thuồng trái cấm, Cain đã “biết được tốt xấu” rồi đấy thôi !
Hơn nữa lúc bây giờ chưa có luật, có lệ, chưa có tội ác lẫn hình phạt, vậy mà đã có khái niệm về “tốt” và “không tốt”, và con người đã biết biện biệt điều tốt điều xấu rồi. Như thế ngay sau khi vườn địa đàng khép lại sau lưng, hành vi con người đã có luân lý tính rồi .
Hóa ra Cain đã “ nghe” lời Chúa nói, nhưng không “ ăn” lời .
12-
Phần hai câu nói của Thiên Chúa mới có lắm điều thú vị, và nhức đầu.
Mời các Bác đọc lại nhé :
“lapetach chatat rovetz ve'elecha teshukato ve'atah timshol-bo.
“tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó."
“sin lies crouching at the door, its desire is unto you, yet you can rule over it
“le péché n'est-il pas à la porte, une bête tapie qui te convoite, pourras-tu la dominer ? ”
Nếu diễn đạt bằng ngôn ngữ ngày nay chúng ta có thể hiểu ý Thiên Chúa muốn nói như sau:
“Tại sao mặt ngươi sa sầm xuống như thế kia ? Nếu ngươi tích cực, nếu ngươi hành động tốt, ngươi có thể ngẩng cao đầu. Nhưng nếu ngươi lừng khừng, không tích cực, thì dù thái độ ấy không phải là xấu xa, nhưng nó khiến ngươi dễ sa vào tội. Tội đang nằm ngay cửa, rình chờ xông vào ngươi như miếng mồi ngon. Nhưng ngươi có thế chế ngự nó.”
Thiên Chúa dùng cùng một kiểu ví von cho cả hai mẹ con, khiến chúng ta không thể nào không nhớ tới câu tuyên phạt của Thiên Chúa dành cho bà Evà.
Ngài nói với mẹ - bà Evà :
Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."(Stl 3:16)
Ngài nói với con – Cain, kẻ sở hữu:
Nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó. "(Stk 4:7)
Câu truớc nói về thân phận phụ nữ. Đại khái phải thèm muốn chồng mình, còn chồng thì thống trị vợ.
Dịch như trên, và đọc nguyên câu văn như thế, chắc giới phụ nữ sẽ rất khó chịu. Ít là đối với phự nữ VN chúng ta, đang sống đậm nét đoan trang của luân lý Á đông và Khổng Mạnh. Câu văn mang một vẻ hơi “sống sượng” vì chữ “ thèm muốn” và dường như khinh thị phụ nữ rõ nét “chồng con sẽ thống trị con”.
Ít có bài giảng nào dám khai triển rộng rãi và tỉ mỉ câu Kinh Thánh này !
Câu dịch của BJ
“Ta convoitise te poussera vers ton mari et lui dominera sur toi.” (BJ) (Lòng thèm muốn thúc đẩy ngươi tới chồng ngươi. và nó sẽ chế ngự(thống trị) ngươi .
“Mais si tu n'es pas bien disposé, le péché n'est-il pas à la porte, une bête tapie qui te convoite, pourras-tu la dominer ?” (BJ) Nhưng nếu ngươi không có sẵn sàng, (chuẩn bị tốt trong tư thế thuận lợi ) thì tội đã chẳng như con thú nằm rình ở sẵn ngay cửa thèm muốn ngươi, ngươi chế ngự(thống trị) nó được sao ?
Bản Vulgata mới dịch thành:
“et ad virum tuum erit appetitus tuus, ipse autem dominabitur tui”.
et ad te erit appetitus eius, tu autem dominaberis illius”.
Còn Nhã Ca 7:10 là:
Ego dilecto meo, et ad me appetitus eius.
Sự song đối sóng đôi này khiến chúng ta nên cẩn thận. Không vì thế mà đem so sánh phụ nữ với tội lỗi. Cả hai đều thèm muốn người đàn ông, và trong cả hai trường hợp, người đàn ông phải/sẽ/nên thống trị người phụ nữ !
Chẳng lẽ Kinh Thánh lại coi phụ nữ tệ đến thế ? như tội lỗi, như con thú hoang đang rình chực đàn ông. Đã vậy vẫn phải quỵ phục người đàn ông.
Why are you angry and why has your face fallen? Is it not the case that if you do well -- lift up! And if you do not do well -- sin lies crouching at the door, its desire is unto you, yet you can rule over it (4:6-7).
Có lẽ chúng ta nên dừng lâu chổ này một chút. Phiền các Bác đọc lại vài cách chú giải của các bậc thông thái, nhờ họ soi sáng cho chúng ta một vài điều:
Từ “ thèm muốn”, nguyên văn Do thái là תשוקה - đọc là teshukah, có nghĩa eager desire.
Từ này ,khổ nỗi, có thể hiểu hai cách, một thụ động và một chủ động, “ désiré” hay “ désirable”, còn tuỳ thuộc vào nghĩa của giới từ “ אל = để, cho, chống lại, theo, to/for/against trong ngữ cảnh.
Ngoài hai chỗ này, từ teshuka này còn được sách Diễm Ca dùng ở câu 7:11 và hoàn toàn nói về hấp lực lôi cuốn giữa chồng vợ .
“ I am my beloved's, and to me goeth forth his תשוקה - teshukah (desire).
“Tôi thuộc trọn về người tôi yêu,
cho lòng chàng cháy rực lửa thèm muốn. ”
Như thế những nghĩa sau đều có thể đúng ;
Ngươi thèm muốn chồng ngươi.
Ngươi là đối tượng cho chồng thèm muốn.
Ngươi phải thoả mãn (lòng ngươi) thèm muốn theo ý chồng ngươi. (vì thế mà) chồng ngươi thống trị/điều khiển ngươi
Tương tự trong trường hợp của Cain
Ngươi thèm phạm tội,
Ngươi là đối tượng cho tội muốn thèm ngươi .
Tội có thèm muốn ngươi thì cũng phải theo ý ngươi (vì thế mà) ngươi thống tri/điều khiển tội .
Vì tiếng Do thái chỉ ghi lại các phụ âm, sát nhau, không có một dấu ngắt câu nào, có vị còn đưa ra chi tiết này: nếu chuyển ngữ tố “Tov” cuối chữ “CHaTaT” sang đầu chữ sau , là chữ “RoBeTZ” thì chữ này thành “TiRBaTZ” và nghĩa của câu thay đổi thú vị hẳn.
Để nguyên chúng ta có: lapetach chatat rovetz chuyển thành lapetach chata trovetz
rovetz (resh, vet, tzadi) = nằm rình (masc.)
chatat (het, tet, alef, tov) = tội (fem.)
lapetach (lamed, peh, tov, het) = Ở cửa
Có thể dịch thành một câu nói mà Thiên Chúa YHWH cảnh báo Cain, " Tội đang nằm rình ở cửa thèm thuồng ngươi, nhưng ngươi có thể làm chủ nó."
Nếu với giọng mạnh mẽ hơn chúng ta cỏ thể dịch thành câu Thiên Chúa trách móc Cain " Ngay tại cửa là tội, đang nằm thèm thuồng rình ngươi.Nhưng ngươi có thể khuất phục nó.”
tirbatz (tov, resh, bet, tzadi) = ngươi (masc.) sẽ nằm xuống.
chayt (het, tet, alef) = của tội (masc.)
l'fetach (lamed, feh, het) = ngay tại cửa
Tác giả cho đề nghị này là cô Adrien Bledstein, trong tập san Bible Review, số tháng Hai năm 1993 trang 42-45. đọc thành câu khuyên mạnh mẽ nhưng vẫn mang nhiều nét ưu ái dành cho Cain:
Ngươi nằm ngay ngưỡng tội lỗi. Tội rất lôi cuốn- teshukah – ngươi . Tuy vậy ngươi có thể thắng nó. At the entry of sin you stretch out; it is attractive -teshukah - to you; yet you can rule over it."
Như thế khi dùng nghĩa lôi cuốn, hấo dẫn cho từ teshukah , thì tương tự câu Stk 3:16 sẽ có thể dịch thành Con rất lôi cuốn chồng con. Vậy mà chồng con vẫn có thể cầm quyền con - You are attractive to your man; yet he can rule over you" (p. 45).
Không nói dấu gì các Bác nhà cháu thấy ý kiến của cô Bledstein rất là teshukah – thèm thuồng đáng ao ước. Tuy vậy các Bác, và nhà cháu, có thể khâm phục nó hay không phục nó .
Nếu chúng ta lưu ý thêm rằng động từ “משל - msh - mashal - rule - thống trị/điều khiển trong tiếng Do thái là “moshel” viết và đánh vần y hệt như động từ “mashal - dụ ngôn” thì điều này lại cho chúng ta một liên kết lý thú.
13-
“...ve'atah.ti msh ol-bo.”
Bây giờ chúng ta dừng một chút ở chữ cuối cùng của câu :
“ Timshol -you may, you can”
John Steinbech đã viết cả một cuốn truyện nổi tiếng dài 600 trang, chỉ với một chữ này làm chủ đề . Đó là cuốn “East of Eden - Phiá đông vườn Địa đàng.” (Viking Press, 1952)
Cho đến lúc này, mọi chuyện vẫn còn tốt đẹp và rất bình thường. Con người có lúc thương lúc giận, có lúc sa sầm nét mặt, có lúc hân hoan. Con người đã biết “tốt”, “xấu” . Nhất là ý thức được rằng, ngoài mình , trên còn có Thiên Chúa (dâng của lễ) và bên cạnh còn có người khác. Và người khác lúc bấy giờ là anh em “đồng bào”.
Hơn nữa con người còn có Thiên Chúa đích thân làm gia sư dạy dỗ về luân lý. Vị gia sư này rất tâm lý và sư phạm . Ngài đưa ra những thách thức để con người luôn luôn “ thăng” và “ tiến”.
Có nguy cơ tội lỗi - đến lúc này Kinh Thánh mới dùng đến danh từ “ chatat - tội lỗi”, và Thiên Chúa ví von nó “ nằm phục ngoài cửa” như con thú vật .
Nhưng điều rất hy vọng - và lẽ ra phải là chuyện thường tình – đó là : “ ve’atah timshol-bo - Ngươi có thể/sẽ/phải chế ngự nó”.
Nhân đây chúng ta cũng nên nhắc lại là Kinh thánh im lặng không cho biết lý do tại sao Thiên Chúa không nhận lễ vật của người này, mà nhận lễ vật của người kia. Bởi đó là điều không cần thết và chẳng dính dáng gì đến biến cố sẽ xảy ra .
Câu nói của Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài chỉ chú tâm vào hành động tốt của từng người: “Nếu người làm tốt thì lift up. Nếu người không làm tốt thì..”
Rõ ràng Ngài không bận tâm đến chuyện dâng lễ và của lễ, mà chỉ lo lắng đến tâm hồn và hành động của người dâng lễ thôi. Thời Cain Abel đã thế mà bây giờ cũng vậy .
Kinh Thánh lại không hề nhắc đến cha mẹ ở đây. Adam và Evà dường như không có trên đời. Chúng ta có thể kết luận dường như hai ông bà thiếu sót bổn phận trong vấn đề giáo dục con cái.
Câu chuyện xem chừng căng thẳng, mà phận làm cha làm mẹ lại không để ý đến những thay đổi tính tình nơi con cái của mình. Thấy mặt con “ sa sầm” như thế thì hắn phải biết có chuyện chẳng lành rồi! Ai lại im lặng và vô tình như thế ?
Nếu đứng về phương diện giáo dục trong gia đình thì hẳn ta có thể rút ra nhiều bài học lý thú khi phân tích câu chuyện này. Ông Adam và bà Evà ơi, làm cha làm mẹ mà lại ở đâu, sao để gia đình tang thương đến thế !
Nhưng nhân tiện mà nhắc thế thôi, chúng ta hãy chú tâm vào Cain .
14-
Lẽ ra Cain đã “ timshol - chế ngự” được “ chatat - tội” , nghĩa chế ngự được con thú đang “ tesukah - thèm thuồng” “ rovetz -nằm chực” “ lapetach -ở cửa”
“Timshol-chế ngự tội” Đây là cao điểm của câu chuyện, cũng là đỉnh cao của luân lý nhân loại. Nhưng con người đã “ hụt” mất cái tiêu chuẩn ấy.
Cain không chế ngự được mình. Ông để ngoài tai lời Thiên Chúa. Đầu mối tội đang nằm ở cửa nhà ông mà ông cứ cho là nó nằm tại ngưỡng cửa nhà người khác, nằm nơi Abel.
Kinh Thánh ghi tiếp:
Vayomer Kayin el-Hevel achiv vayehi biheyotam basadeh vayakom Kayin el-Hevel achiv vayahargehu.
Kayin said [something] to his brother Hevel, and it happened when they were in the field, that Kayin rose up against his brother, Hevel, and killed him. em> (Stk 4:8)
“ Vayomer Kayin - Cain nói ” nhưng mà nói cái gì với Abel mới được chứ ? Kinh thánh không ghi lại, dù bản văn dùng động từ “vayomer- says – dit – nói – dixit “
Nhưng các bản dịch Vulgata, BJ, đều ngắt câu cách khác, mà cho rằng “ Cain nói với Abel [rằng] Chúng ta hãy ra ngoài đồng đi. ”
“Dixitque Cain ad Abel fratrem suum: “Egrediamur foras” . Cumque essent in agro, consurrexit Cain adversus Abel fratrem suum et interfecit eum. (Nova Vulgata)
Cependant Caïn dit à son frère Abel : Allons dehors, et, comme ils étaient en pleine campagne, Caïn se jeta sur son frère Abel et le tua.(BJ)
Ca-in nói với em là A-ben: "Chúng mình ra ngoài đồng đi! " Và khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến giết A-ben, em mình. (CGKPV)
Không, khi đọc lại nguyên văn Do thái, chúng ta có được nhiều chi tiết thú vị hơn. Chúng ta có thể dịch nôm na như sau:
Vayomer Kayin el-Hevel achiv vayehi biheyotam basadeh vayakom Kayin el-Hevel achiv vayahargehu.
Kayin nói [điều gì đó] với em Hevel, và đã xảy ra là khi họ đang ở ngoài đồng, Kayin chỗi dậy chống em mình, Hevel , và giết em. (Stk 4:8)
“Cain nói với Abel” là hai người to tiếng với nhau ? hay Cain có dự mưu “ dụ” Abel ra ngoài “sadeh - đồng” ?
Ngoài đồng trống, nơi vắng vẻ, nơi không có gì để ẩn nấp, nơi xa nhà xa cửa, xa nơi đô thị, xa nơi văn minh, để sự việc xảy rà thì không ai có thể tiếp cứu ?
Tại một nơi cô quạnh như thế thì Abel chết chắc !
Nghĩ như thế, chúng ta thấy Cain đã dùng đầu óc của mình để thi hành công việc. Ông đã dùng miệng lưỡi để dàn xếp sao cho Abel hiện diện tại nơi vắng vẻ.
Có lẽ động lực thúc đẩy mạnh nhất chính là nỗi ghen tức. Và biết đâu chừng lòng tham sở hữu là động cơ chính ? Cain- kẻ sở hữu- kaniti muốn chiếm đoạt đoàn súc vật của Abel - kẻ phù du kia, để làm của lễ và làm lương thực lúc mùa màng thất bát ?
Aben ngã xuống, máu thấm vào lòng đất. Cái chết lần đầu tiên hiện hữu trên địa cầu.
Vụ án mạng xảy ra ngoài đống vắng, hẳn Cain không muốn ai thấy. Ông cho như thế là không ai biết .
Ngay lập tức Cain là người biết đầu tiên. Ông biết ngay mình “đã không làm tốt” !
15-
Chúng ta tạm dừng ngay đây, tản mạn đôi điều về nỗi lòng của hai ông bà Adam-Eva, trước cái chết của Abel.
Khi chứng kiến cái chết đầu tiên, mà lại là cái chết của Abel, con mình, hẳn hai ông bà chua xót lẫn đớn đau. Lời cảnh báo của Thiên Chúa bây giờ đã lộ rõ:
“Ume'etz hada'at tov vara lo tochal mimenu ki beyom acholcha mimenu mot tamut.
Nhưng từ cây biết điều tốt điều xấu, ngươi không được ăn từ nó (mimenu) Vì ngày nào ngươi ăn từ nó, ngươi chết chắc (mot tamut) !”
Sau khi ăn trái, hai ông bà thấy mình chưa chết ngay lập tức lúc ấy, nên hai ông bà chưa biết chết là gì, mà hẳn hai ông bà hy vọng lời cảnh báo của Thiên Chúa sẽ không thành sự thực. Cái chết chưa biết lúc nào rồi sẽ đến. Hẳn là hai ông bà hy vọng nó sẽ lâu hoặc không xảy ra .
Nhưng nay đứng trước thân thể của Abel không hơi thở, không động đậy, và bắt đầu trở thành cát bụi ngoài đồng hoang, hai ông bà mới cảm nghiệm thực sự và trọn vẹn hiệu lực cấp kỳ của Lời Thiên Chúa. Chỉ chưa đầy 30 câu sau lời tuyên án, cái chết lừng lững xuất hiện.
Điều chua xót là chính cái chết đã dùng chính tay người con mình “ kaniti - sở đắc” từ Thiên Chúa để ngạo nghễ xuất hiện lần đầu trong thế gian. Tội và cái chết là một, như con thú, giờ đây đã chồm từ ngưỡng cửa, đang “ kaniti - sở hữu” gia đình nhân loại.
Qua Cain - kẻ sở hữu”, cái chết khẳng định “ quyền sở hữu” của mình trên nhân loại.
Hai ông bà – nhân loại - , giờ đây nghiệm được lời Thiên Chúa, hiểu được thế nào là phận nguười là bụi đất mọn hèn, vì đang chứng kiến thân xác con mình trở thành cát bụi.
16-
Ngay lập tức Thiên Chúa hỏi “ayeh Hevel achicha - Em Abel của ngươi đâu ?”
Vayomer HASHEM el-Kayin ayeh Hevel achicha vayomer lo yadati hashomer achi anochi.
Rồi HASHEM nói với Kayin, "Em ngươi, Hevel, đâu rồi?" [Kayin] nói, "Tôi không biết. Tôi là kẻ giữ em tôi à?"
Hẳn chúng ta chưa quên câu hỏi này. Thiên Chúa đã từng hỏi bố mẹ kẻ sát nhân đang lo trốn trong vườn Địa đàng sau khi ăn trái cấm:
9 Vayikra HASHEM Elokim el-ha'adam vayomer lo ayeka.
HASHEM Thiên Chúa đã gọi con người, và Ngài nói, "Ngươi đâu rồi? " ( Stk 3:9)
Ngay sau khi hai tội phạm vừa xảy ra, Thiên Chúa thảng thốt hỏi cùng một câu về người-bây-giờ-trở-thành-kẻ-vắng-mặt: “ayeh – đâu rồi ? - Where ? - Où est ?
Chúng ta phải để ý đến trạng từ nghi vấn chỉ nơi chốn “ ayeh - ở đâu ? ” thì mới nhìn ra được nét thâm thúy trong câu hỏi của Thiên Chúa .
Tiếng Do thái có hai từ dùng để tra vấn về nơi chốn là “ ayeh ?” và “eiphoh ? ” Cả hai từ đều được dùng để hỏi: “ ở đâu rồi ?”
Nhưng khi thắc mắc rằng “ lẽ ra ở đây mà sao lại đâu mất rồi. ” thì người ta dùng “ ayeh ? ”
Chẳng hạn khi bố mất, con trai cưng đi làm xa chưa kịp về, bà mẹ khóc: “ Ớ con ơi là con ơi ! Con ở đâu rồi – ayeh - sao không về mà nhìn mặt bố lần cuối, hở con ? ” Mẹ biết hiện con đang ở đâu, nhưng vẫn khóc: “ Con ở đâu -ayeh ? ” Nghĩa là lẽ ra con phải ở đây mà sao bây giờ lại không thấy ?
“ Ayeh Havel achicha ? Abel ở đâu ?” Nghĩa là “ Lẽ ra Abel phải ở đây mà sao không có đây ? Điều gì xảy ra cho Abel? ”
Y hệt như Thiên Chúa đã từng hỏi bố Adam:
“ Lo ayeh ka ? Ngươi ở đâu ? ” Nghĩa là “ Lẽ ra ngươi phải ở đây mà sao ngươi đâu rồi” ?
Trong cả hai trường hợp Thiên Chúa biết chuyện gì đã xảy ra cho người đó, Adam và Abel, nhưng vẫn lên tiếng tra vấn người gây ra cớ sự, để chính người đó phải có câu trả lời, nhìn vào chính mình mà tìm ra câu trả lời.
Ở vườn Địa đàng Thiên Chúa lo lắng đi tìm Adam-trong-trắng-nguyên-thủy, lẽ ra phải ở đây, mà bây giờ đã mất, đã chết, nên Ngài lên tiếng tra vấn Adam-kẻ-phạm-tội, đen tối và đang dãy chết, đang sợ hãi chính mình và sợ hãi Thiên Chúa, sợ hãi chính cả sự trần truồng của mình.
Bây giờ, ngoài đồng hoang, khuất nẻo vườn Địa đàng, Thiên Chúa tra vấn Cain về chính người em-đồng-bào-Abel, lẽ ra phải đang ở bên cạnh ông.
Trong cả hai trường hợp Thiên Chúa không bắt đầu bằng câu lên án, hay khẳng định, nhưng Ngài dùng một câu hỏi, như bất cứ một ai bắt đầu đi điều tra. “ Ayeh..? ”
Ngài không chỉ hỏi: “ Ayeh Havel - Abel ở đâu ? ” mà còn nhấn mạnh: “ Ayeh Havel achicha - Em Abel đâu ?” Ngài cao giọng nhắc cho Cain nhớ sự kiện Abel là em ông , đồng “bào” với ông, từ cùng một mẹ Evà .
Tại sao Em ngươi không ở bên ngươi ?
17-
“Chưa giết được người mặt đỏ như vang
Giết được người rồi mặt vàng như nghệ”
Chúng ta hãy xem biến cố vườn Địa đàng được lập lại như thế nào.
Cain đáp: “ Lo yadati - Tôi không biết ! ”
Dĩ nhiên ông đã nói dối khi nói thế. Ông biết ông đã làm gì cho em Abel, và biết hiện thời Abel đang sõng soài trên mảnh đồng nào. Khi buông ra lời dối gian, ông muốn tự dối lòng hơn dối Thiên Chúa. Lương tâm ông bắt đầu lên tiếng .
Điều thú vị là trong cùng một trường hợp tương tự, sau này Giacop lập lại câu nói ấy.
Dụ em Abel ra đồng vắng, Cain tưởng không ai biết.
Gối đầu trên phiến đá ngủ đêm ngoài đồng hoang Giacop cũng cho rằng đồng hoang là nơi không có ai. Qua giấc mộng thấy các sứ thần Chúa lên xuống trên một cái thang cao ngất trời, ông thảng thốt kêu lên :
" Achein yeish Adnai bamakom hazeh, v'anochi, lo yadati "
"Thiên Chúa đang hiện hữu tại nơi này, mà tôi, tôi đã không biết."
Chỉ thấy sứ thần lên thang xuống thang, mà Giacop đã nhận ra “ Thiên Chúa hiện diện nơi này”, thế mà khi Thiên Chúa đích thân hiện ra hỏi, Cain chỉ nói “ Tôi không biết”, mà không thèm kết luận thêm: “ Acein yeish Adonai bamacom hazeh - Thiên Chúa đang hiện diện chốn này ! “
Khi nhấn mạnh chữ “Em”: “ Ayeh Havel achicha - Em Abel đâu ? ” Thiên Chúa nhắc khéo cho Cain một trách nhiệm.
Cain hèn nhát phủ nhận trách nhiệm khi trả lời câu Thiên Chúa hỏi bằng một câu hỏi :
“...ha shomer achi anochi. Tôi là kẻ giữ em à? "
a.
Không phải ông là người đầu tiên hèn nhát trốn tránh trách nhiệm. Bố ông Adam, cũng đã chối trách nhiệm như thế trong vườn Địa đàng:" Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn. "
Ađam trốn tránh trách nhiệm trên hành vi cá nhân của mình.
b.
Cái hèn nhát ấy “lem” sang Cain . Nhưng Cain còn hèn hơn một bước nữa.
Khi ông vặn lại Thiên Chúa: “ha shomer achi anochi –Am I my brother's keeper? Tôi là kẻ giữ em tôi à ? " là ông trốn tránh trách nhiệm luân lý đối với em ông, đối với người thân cận trong nhà .
Ông nói thế là y hệt như ông lý luận bào chữa rằng: “ Ừ ! Rằng thì là tôi làm đấy. Vậy thì sao nào ? Tôi chẳng thấy có lý do nào để mà cản tôi không được làm thế . Tôi đâu có trách nhiệm gì với em tôi đâu ? ”
Cain không hiểu rằng người thân cận phải trả giá liên đới trách nhiệm trên cảm tính của mình, sở thích của mình, kể cả tự do của mình .
c.
Nhưng không chỉ mình hai cha con nhà Ađam hèn nhát, mà cái tật xấu ấy len lỏi lây nhiễm sang các đời con đời cháu sau này, mà cao điểm là...ông Noe.
Kinh thánh ca tụng ông là “ ish tzaddik tamim haya bedorosov es-ho'elokim hitalech Noach – người công chính, người tốt lành trong thời ông, một người đi cùng Thiên Chúa.” (Stk 6:9)
Noe tốt lành như thế đấy, vậy mà sau này ông lại đâm ra hư đốn. Không những nốc rượu đến say mèn đến độ nằm ngủ loã lồ mà không biết. Hai đứa con phải hổ ngươi vì bố.
Tại sao vậy ? Cũng tại vì ông thiếu sót trách nhiệm. Trách nhiệm đối với cộng đồng.
Ông cứu được bản thân ông, vậy là ông giữ được trách nhiệm cá nhân. Ông cứu được gia đình ông, thế là ông giữ tròn trách nhiệm luân lý với thân nhân .
Nhưng suốt bao nhiêu năm trời hì hà hì hục đóng tàu, bao nhiêu người đến thắc mắc. Ông biết thế gian sắp chịu tai ương khủng khiếp chết người, vậy mà ông không biết hay là không chịu nói lên một lời can thiệp với Thiên Chúa xin tha cho cộng đồng nhân loại !
Kết quả là như thế nào, chúng ta đều biết. Cả thế gian chết đuối, trở thành hoang lạnh điêu tàn. Một mình Noe làm kiếp Robinson trên hoang đảo thế gian.
Vậy mà ngày xưa, chính Thiên Chúa long trọng tuyên bố và nhận định: “ Lo tove liheyot ho-adam levado – Con người ở một mình không tốt !”,
Kinh Thánh chỉ dùng chữ: “ lo tove – không tốt” hai lần mà thôi. Một lần ở đây và lần sau là khi bố vợ Yethro tới thăm và thấy Môsê thấy đang định bỏ bê đám dân Do thái cứng đầu , Ông cho Môsê ý kiến : “ lo tov hadavar she'ato oseh – Điều con đang làm thì không tốt. ”
“ Không ai là một hòn đảo” mà. Phải có trách nhiệm liên đới cộng đồng chứ ? “ Giết người đi thì ta ở với ai ? ” . Cain quên rồi sao ? Noe quên rồi sao ?
d-
Hèn nhát thiếu sót trách nhiệm còn được biểu lộ cách trầm trọng và rộng lớn hơn nữa trong thuật trình về tháp Babel .
Thoạt đầu Babel là một công trình tưởng chừng sẽ là rất tốt đẹp. Kinh thánh tả thế giới sau cơn đại lụt là: “ Vayehi col-ha'aretz safah echat udvorim achadim. "Toàn thể đều nói cùng một ngôn ngữ với những từ giống nhau. ” ( Stk 11:1)
Và khi đồng lòng rồi thì rồi họ bảonhau: “ Hava nilbenah levainim - Nào chúng ta cùng đúc gạch” (Stk 11:2)
Thế là không được rồi. Có điều gì đó không ổn rồi.
Khi tạo dựng Thiên Chúa đâu có tạo ra chỉ có một loại cây, hay chỉ có một loại thú mà thôi đâu . Vũ trụ sẽ nghèo nàn và thảm biết bao nếu rừng rú chỉ có một giống thông và chỉ có một loài cọp. Khắp mọi vùng đại dương chỉ có một loài cá...nóc ! Còn trên vòm trời hằng hà sa số mặt trời ngày đêm chiếu chiếu sáng rực như nhau!
Thiên Chúa không nghèo nàn đến thế . Ngài dựng nên muôn muôn loài và muôn muôn vật. Mỗi loại tuỳ theo giống loài của mình mà sinh sản đầy mặt đất. Trăm hoa đua nở . Cái tốt đẹp và huy hoàng của sáng tạo là hàng triệu loài khác nhau. Và trong mỗi loài lại có hàng triệu cá nhân khác nhau.
Có “ khác nhau” như thế, Thiên Chúa mới truyền lệnh nhắc nhớ con người : “ Hãy yêu thương người “khác” .” Thậm chí “ Hãy yêu cả kẻ thù ngươi .”
Nghĩa là Thiên Chúa còn trao cho con người chịu trách nhiệm với toàn thể cộng đồng nhân loại nữa, nghĩa là mọi người, cả kẻ “ khác” ta và cả kẻ “ thù ta”.
Huống chi là em Abel đâu có “ thù” oán gì anh Cain. Mà cả khi Cain “ giận” Abel “lắm” đi nữa thì bài học sáng tạo vẫn còn chưa ráo nét mực: “ Con người ở một mình không tốt”. Vậy mà Cain đã vội quên.
Khi vặn lại: “...ha shomer achi anochi. Tôi là kẻ giữ em à? " Cain đã cố tình từ chối trách nhiệm cộng đồng, khai mào cho cả một di luỵ về sau !
18-
Thiên Chúa không cần trả lời cho câu Cain vặn hỏi. Hay nói cho đúng Ngài trả lời bằng cách giải thích cho Cain thấy rằng, công lý và công bình đã được Ngài “phú” sẵn trong thiên nhiên :
“ Vayomer me asita kol demei achicha tzoakim elai min- ha'adamah.
Thiên Chúa nói : “Ngươi đã làm gì ? Tiếng máu của em người từ lòng đất kêu thấu lên tới Ta . ”
Nguyên bản Do thái dùng từ “ demei- [những] máu” số nhiều của từ “ dam - máu”. Cain không chỉ giết một mình Abel. Abel chết đi, dòng dõi ông, con cháu của ông, “ những giọt máu hậu duệ” của ông, lẽ ra được hiện hữu, nay đã chết theo Abel. Họ lên tiếng đòi công lý.
Không chỉ tay Cain vấy máu, mà cả vũ trụ cũng bị lây nhiễm và ô uế vì máu của Abel đổ ra thấm xuống vì tội ác. Đất cũng đòi trả nợ công lý :
“Ve'atah arur atah min-ha'adamah asher patzeta et-piha lakachat et-demei achicha miyadecha.” - Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi/từ chính đất đã phải há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra.”
Cấu trúc câu văn Do thái có thể hiểu là đất là nguyên do sinh ra chúc dữ cho Cain,mà cùng có thể hiểu hậu quả lời chúc dữ là Cain bị tách lià khỏi đất. Đất như được nhân cách hoá và hậu quả tội sát nhân của Cain được làm nổi bật qua tương quan giữa Cain và đất.
Cain người sở hữu đất đai, người canh tác và sống nhờ hoa mầu từ đất đai, nay bị chính đất đai đòi công lý, vì ông đã làm hoen ố đất do tội ác tay ông gây nên. Lẽ ra đất phải “ ăn nước trời” nhưng tội ác đã bắt đất phải uống máu Abel người vô tội .
Thiên nhiên đất đai đã được tạo dựng sao để không tội ác nào xảy ra mà không ai biết, hay thủ phạm lại vô can. Đất sẽ đòi công lý cho bằng được.
Vì thế kẻ phạm pháp sẽ chẳng bao giờ còn được yên ổn. Đất không còn là nhà ở, là nơi dừng chân hay chốn nương thân. Thậm chí cũng không còn là người mẹ nuôi thiên nhiên cung cấp lương thực :
“12 Ki ta'avod et-ha'adamah lo-tosef tet-kocha lach na vanad tihyeh va'aretz.
Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi sức mạnh của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang và phiêu bạt trên mặt đất.
Như thế không chỉ mình Cain mà mọi can phạm sát nhân đều phải biết rằng, sẽ không còn chổ nào dung thân, sẽ không còn chỗ nào cung cấp lương thực cho . Hắn có sống sót chăng, hoàn toàn là do lòng xót thương của Thiên Chúa.
Chúng ta đã thấy câu chuyện vườn địa đàng được lập lại.
Sau khi ăn trái cấm, Adam đã bị nguyền rủa khỏi/bởi đất. Thiên Chúa nói với Adam bằng những từ ngữ tương tự
“ha'adamah ba'avurecha be'itzavon tochelenah kol yemey chayecha.- Đất sẽ bị nguyền rủa vì ngươi Trong buồn rầu ngươi phải ăn từ đất mọi ngày trong đời ngươi - the soil will be cursed because of you. In sorrow you shall eat from it all the days of your life.
18 Vekotz vedardar tatzmiach lach ve'achalta et-esev hasadeh. - Đất sẽ sinh gai góc vì ngươi; và ngươi phải ăn cỏ ngoài đồng - It will grow thorns and thistles for you; and you will eat the herbs of the field.
19 Beze'at apecha tochal lechem ad shuvecha el-ha'adamah ki mimenah lukachta ki-afar atah ve'el-afar tashuv. – Ngươi phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có cơm ăn, cho đến ngày ngươi trở về đất, nơi mà ngươi được lấy ra. Vì ngươi là đất , và ngươi phải trở về đất . - By the sweat of your face you will eat bread, until you return to the ground for from it [the ground] were you taken. For you are dust and to dust you shall return. "
(Stk 3:17-19).
Adam phải cật lực với đất mới có cơm ăn; Còn Cain, dù có tận lực làm việc, đất cũng không cho ông sức mạnh.
Cain kẻ sát nhân sở hữu đất, nay bị nguyền rủa khỏi đất. Và bị phát lưu khỏi đất. Muôn đời ông sẽ lang thang vô định .
Ấy là Ngài mới chỉ nhắc cho Cain biết hệ quả tất yếu của việc sát nhân. Ngài chưa đề cập đến việc kêu án hay đền tội, mà chúng ta đã thấy Cain đã thất vọng khủng khiếp rồi.
Ông nói: “Tội tôi nặng quá, sức tôi mang không nổi :
13 Vayomer Kayin el-HASHEM gadol avoni mineso.
Kayin nói với HASHEM, "Tội tôi nặng qúa, sức tôi mang không nổi. "
14 Hen gerashta oti hayom me'al penei ha'adamah umipanecha esater vehayiti na vanad ba'aretz vehayah chol- motze'i yahar'geni.
Đây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải vô định, thành kẻ phiêu bạt trên mặt đất, và xảy ra là bất cứ ai gặp con sẽ giết con. "
Cain dùng chữ “xua đuổi - gerashta”. Từ này có nghĩa là “ly dị”, chồng vợ chia tay. Đem áp dụng vào Cain. Cain nói: “Này, hôm nay Ngài tách biệt con khỏi đất” Quả là một lời nguyền quyết liệt .
Cain, bây giờ trở thành hèn nhát, phóng đại sự trừng phạt. Cain hiểu và hiểu sai rằng ông bị xua đuổi khỏi mặt đất,. Và khi lang thang như thế, không còn được Thiên Chúa để mắt chăm sóc và bảo vệ , và như thế ông sợ bất cứ ai gặp ông sẽ săn đuổi và giết ông, như một thú tiêu khiển.
Cain, nhà nông tang, kẻ vốn bám vào vuông đất để tìm bình an trong đời sống an cư lạc nghiệp, nay hớt hơ hớt hải trong đời du mục vô định như em Abel nạn nhân của ông.
Nghĩa là sau tội ác, mọi trật tự đều bị đảo lộn.
Tóm gọn lại khi so sánh hai bố con, chúng ta thấy, sau khi phạm tội :
-Cả hai đều nghe tiếng Thiên Chúa tra vấn: “Ayeh - Đâu rồi ?
-Adam trốn khỏi giáp mặt Thiên Chúa. Adam chỉ trốn chốc lát. Thiên chúa tìm lại được và đâu lại vào đấy. Còn Cain cũng trốn, nhưng sẽ trốn, nghĩa là mãi mãi đời còn lại của ông sẽ là tách lìa khỏi Đấng Sáng tạo.
-Adam Evà phải lià xa nơi định cư tuyệt vời, phải di cư trú thân chốn khác, còn Cain cả đến chốn dung thân cũng không còn, ông sẽ “ na - phiêu bạt”, và “ vanad - lang thang” khắp nơi. Đất không còn là chốn ông có thể ở dừng chân hay trú thân.
-Adam còn tìm ra được lương thực tư đất đai, tuy cực nhọc. Nhưng đất từ khước nuôi và ban cho Cain sức mạnh .
Lịch sử không chỉ lập lại, nhưng mọi việc đều tái diễn ở một mức trầm trọng hơn .
Và nổi bật hơn hết là chủ để đất được nhấn mạnh: Con người từ bụi đất, con người canh tác đất đai, đất đai sinh cây cỏ, hoa màu, đất đai sinh gai góc, đất đai đòi nợ máu, đất đai từ chối chuyển sức mạnh cho Cain , và Cain vĩnh viễn lang thang trên mặt đất ... Cứ thế cho mãi về sau này “Phúc cho kẻ hiền lành, vì họ sẽ được yireshu aretz -thừa hưởng đất. ”
Khi Thiên Chúa nhấn mạnh, vì máu Abel thấm vào đất, nên b đất đòi công lý phải được thực thi, chúng ta không thể không rút ra kết luận rằng, mỗi hành vi của con người, dù nhỏ nhoi hay vô nghĩa, đều có ảnh hưởng trên toàn thể thế giới, dù là thế giới vật chất hay thế giới các sinh vật.
19-
Đáp lại nỗi lo lắng của Cain, Thiên Chúa lên tiếng bảo vệ ông : "
Vayomer lo HASHEM lachen kol-horeg Kayin shiv'atayim yukam vayasem HASHEM le-Kayin ot levilti hakot-oto kol-motze'o.
ĐỨC CHÚA phán với ông: "Không đâu! Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy." ĐỨC CHÚA ghi dấu trên Ca-in, để bất cứ ai gặp ông khỏi giết ông. ”
Dấu ấn Thiên Chúa ghi trên ông không hẳn là “tiếng lương tâm” hay như dấu chàm thích trên trán những kẻ tả đạo, nhưng để giúp cho Cain trong đời bôn tẩu thoát cảnh bị truy lùng.
Được tạm thời yên ổn, Cain toan tính chuyện lâu dài :
Vayetze Kayin milifnei HASHEM vayeshev be'eretz-Nod kid'mat-Eden.
Kayin rút lui khỏi mặt HASHEM và định cư ở đất Nod, phía đông Địa đàng.
“ Milifnei HASHEM - rút lui khỏi mặt Thiên Chúa- from before God” chi tiết này cho ta thấy trong cuộc đối thoại, Cain đang nói chuyện trực tiếp, diện đối diện với Thiên Chúa. Bây giờ xong cuộc chung thẩm, án phạt đã ra, thủ phạm rời toà.
Cain khôn ngoan, rút lui về gần lại vườn Địa đàng, nơi có thiên thần cầm gươm sáng loáng trấn giữ cửa ra vào. Ông hy vọng nương nhờ oai phong của hai vị cherubim đệ thêm phần an toàn cho mình ? Ông lang thang về phía đông vườn Điạ đàng.
Bây giờ cảm thấy an tâm, xa khỏi những kẻ săn lùng tưởng tượng , ông “ định cư ở xứ Nod”.
Tiếng Do thái, tên “ Nod” do từ “ vanad” là “những kẻ lang thang, phiêu bạt”. Mang phận phiêu bạt, ông không chịu sống đời “ lang thang”. Ông định cư. Nhưng lại định cư trong “ xứ những kẻ lang thang”.
Mất tin tưởng vào thiên nhiên, vào đất đai, vào Thiên Chúa, ông mong tìm nương tựa nơi hậu duệ.
Toan tính của ông ra sao, chúng ta đọc tiếp :
Vayeda Kayin et-ishto vatahar vateled et-Chanoch vayehi boneh ir vayikra shem ha'ir keshem beno Chanoch.
Kayin knew his wife, and she conceived and gave birth to Chanoch. [Kayin] was building a city, and he named the city after his son Chanoch. Kayin “biết” vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Chanoch . Ông xây một thành. Và đặt tên thành theo tên con Chanoch.
Tên “Chanoch” thuộc gốc “chanakh”, có nghĩa là “huấn luyện”, “giáo dục”.
Nhìn xa về tương lai, trước viễn cảnh cái chết của chính mình mà ông đã tiên cảm được qua cái chết của em Abel do chính tay mình gây ra, ông tìm cách thủ đắc phần an toàn bằng cách gầy dựng một gia đình, sinh con và “huấn luyện”, “giáo dục”, “chanoch” nó .
Khác với thành Babel sau này, thành của Cain mang tên con trai, tố giác một ưu tư lo lắng về sự an toàn và cái chết của chính kẻ tội phạm Cain .
20-
Chúng ta có thể dừng các tản mạn về vụ án mạng đầu tiên tại đây. Nhưng nếu đọc thêm vài hàng tiếp chúng ta sẽ thấy chuyện đời Cain còn chứa đựng nhiều điều lý thú.
Hãy khoan vội lên án Cain là kẻ giết em. Nhiều khi, và rất nhiều khi trong lịch sử, anh em giết nhau để tranh ngôi là chuyên thâm cung bí sử thường xảy ra.
Để biết vai trò và vị trí của Cain như thế nào trong sự phát triển của thế giới, chúng ta nên đọc thêm những hàng kế tiếp .
Nếu các Bác chưa chán, cho phép nhà cháu hầu chuyện các Bác một vài điều nữa thôi. Vì phải nói thêm cho trọn, kẻo mang tiếng là bất công với Cain, khi chỉ nhắc đến điều xấu của ông mà không nhắc đến khía cạnh tích cực của ông.
Và dĩ nhiên, như nhà cháu từng nhắc đến trong loạt bài trước, chúng ta hiện chỉ dừng lại phân tích câu chuyện tự nó, như được kể trong Kinh Thánh, mà chưa soi sáng nó bằng những đoạn , những câu khác trong Kinh Thánh, cả Cựu lẫn Tân Ước ,đề cập xa gần tới nó.
Để cho đầy đủ và quân bình, chúng ta còn phải tìm hiểu ý kiến của Huấn quyền về trình thuật này như thế nào, đọc các chú giải của các Giáo phụ, các nhà chuyên môn, các nhà chú giải uyên bác.
Và cuối cùng còn phải đọc trình thuật này trong một tinh thần cầu nguyện. Chúa Thánh Thần vẫn đang soi sáng và hướng dẫn Giáo Hội .
21-
Như chúng ta đã thấy: thành Chanoch của Cain mang tên con trai, tố giác một ưu tư lo lắng về sự an toàn.
“Thành”, tiếng Do thái là “ ir”, có từ gốc mang nghĩa "canh chừng" hay "canh thức ". Như thế Cain xây thành Chanoch là để tự vệ, dặt người trên tháp canh để mưu tìm sự an toàn cho chính mình.
Tuy vậy từ trong nỗi lo lắng về an ninh cá nhân như thế, bắt đầu phát sinh văn minh cho thế giới. Chúng ta hãy nghe Kinh Thánh kể lai lịch các nghề :
“Khanốc sinh Yrad ( “kẻ đào tẩu”) ;
Yrad sinh Mechuyahel (“kẻ nhìn thấy Chúa”) ;
Mechuyael sinh Methusael (“kẻ từ Chúa mà có”) ;
Methusael sinh Lamech .19
Lamech lấy hai vợ, một bà tên là Adah (“trang điểm”) ,
bà thứ hai tên là Tzillah (“bóng râm”) .20
Bà Adah sinh Yaval (“chảy”, “hướng dẫn”, “mang lại”) ;
ông này là ông tổ các người ở lều và nuôi súc vật (“avi yoshev ohel umikneh”.) .21
Em ông này tên là Yuval (cùng gốc với tên “Yaval”)
ông này là ông tổ các người chơi đàn thổi sáo ( avi kol-tofes kinor ve'ugav) 22
Còn bà Tzilla thì sinh Tuvan-Cain;
ông này là ông tổ các người thợ rèn đồng và sắt (lotesh kol-choresh nechoshet uvarzel = mài nhọn tất cả những gì cắt đồng và sắt”) .
Em gái Tuvan-Cain là Naamah (“thích thú”) .
( Stk 4: 18-22)
Như thế đến đời Lamech hậu duệ đời thứ bảy của Adam, văn minh nhân loại bắt đầu nở hoa. Lamech có một bà vợ làm “ trang sức”, Bà kia làm nơi nương tựa cho ông “ núp bóng”. Trong số các con của ông, Yaval ở dưới mái lều,- nhân loại bắt đầu có chổ ở ổn định và có một không gian riêng tư -, lại biết chăn nuôi, - nhân loại bắt đầu biết có vốn riêng, tài sản riêng - ...
CònYuval khoáng đạt và nghệ sĩ hơn, ông là ông tổ những người chơi đàn thổi sáo. Hẳn nhân loại đã thảnh thơi hơn, có của ăn của để - nên bắt đầu biết những thú tiểu khiển những lúc nhàn nhã. Cùng lúc nghệ thuật xuất hiện, văn minh nhân loại tiến thêm một bước.
Văn minh càng tiến xa khi Tuvain-Cain được bản văn Do thái gọi là “ người biết mài nhọn tất cả những gì cắt đồng và sắt”, nghĩa là còn hơn ngành luyện kim một bậc .
Như thế hẳn con người biết làm ra đồ dùng và, - thật đáng tiếc - cả vũ khí nữa (!)
Chúng ta hãy nghe Lamech làm thơ khẩu khí:
“23 Ông Lamech nói với các bà vợ:
"Adah và Tzilla, hãy nghe tiếng ta!
Thê thiếp của Lamech, hãy lắng tai nghe lời ta!
Vì một vết thương, ta đã giết một người,
vì một chút sây sát, ta đã giết một đứa trẻ.
24 Cain sẽ được báo thù gấp bảy,
nhưng Laméc thì gấp bảy mươi bảy! " (Stk 4:23 –24)
Lamech tự hào về tính hiếu chiến của mình. Câu nói của ông mang tính nhịp nhàng của một câu thơ. Kết hợp giữa thi ca và nhạc điệu của câu nói, hợp với cái hào khí đầy vẻ chiến tranh trong cái tính hiếu sát, Lamach mang dáng dấp của những anh hùng thời xa xưa, pha trộn giữa thần và người.
Các nhà chú giải cho rằng câu hát hiếu chiến mang tính man rợ này đã có từ xa xưa. Tác giả Kinh thánh mang vào đây để nói lên tình trạng thế giới càng ngày càng sa đọa và bi thảm sau khi biến cố vườn Địa đàng. Một khi tội đã đột nhập vào thế gian, thì tội sẽ càng ngày càng chồng chất. Ý tưởng này sẽ là tiền đề cho thuật trình cơn hồng thủy thời Noe sau đó .
Cùng một tội ác, Thiên Chúa ra hạn bảy lần để làm chùn tay báo thù, thế mà Lamech huyên hoang báo thù đến bẩy mươi bẩy lần. Tính nóng và giận dữ cũng như tính hiếu chiến càng ngày càng tăng. Chỉ “bị một chút xây sát mà Lamach giết một đứa trẻ” thì thật là quá đáng và loạn nữa .
22-
Tuy vậy tình hình không tuyệt vọng.
Câu chuyện Cain kết thúc bằng một khởi đầu mới: Một đứa con nữa ra đời.
25 Vayeda Adam od et-ishto vateled ben vatikra et-shemo Shet ki shat-li Elokim zera acher tachat Hevel ki harago Kayin.
Ađam, biết vợ mình lần nữa, và bà sinh một đứa con trai, và đặt tên cho nó là Shet “ vì Đức Chúa đã ban cho tôi một dòng dõi khác thay cho Abel, vì Cain đã giết nó . ”
So với lúc Cain sinh ra, tình hình bây giờ khác hẳn. Không còn tự hào, không còn sảng khoái hay thích thú khi gọi tên đứa trẻ. Bà Evà giờ đây nhẫn nhục hơn vì kinh nghiệm quá khứ đã cho bà bài học cay đắng. Tội ác của Cain đã làm bà khiêm tốn hơn. Nay bà chỉ còn biết “ cảm ơn” khi có con, thay vì tự hào như trước.
26 Ule-Shet gam-hu yulad-ben vayikra et-shemo Enosh az huchal likro beshem HASHEM.
To Shet also was born a son, and he named him Enosh. Then men began to call [idols] by the name HASHEM.
Seth sinh một người con trai , và ông đặt tên cho nó là Enosh . Rồi con người bắt đầu gọi[ ] bằng tên HaShem
Người cháu Enosh này có cái tên mang ý nghĩa rất khiêm tốn, rất biết điều : Enosh có nghĩa là “ người mang phận tử sinh” . Mang dấu ấn hậu quả của lời nguyền, và nhất là qua kinh nghiệm cái chết của Abel, con người biết thân biết phận hơn.
Thay cho lời kết, chúng ta dừng lại một chút ở câu cuối cùng chương 4 sách Sáng Thế Ký
“ az huchal likro beshem HASHEM.” ( Stk 4:26)
Then men began to call [idols] by the name HASHEM.
Rồi con người bắt đầu gọi [các thần] bằng Tên [HaShem].
Celui-ci fut le premier à invoquer le nom de Yahvé. (BJ)
Tunc coeperunt invocare nomen Domini. (Nova Vulgata)
At that time men began to invoke the LORD by name. (NAB)
Chúng ta nên lưu ý chữ “HASHEM” thường gặp trong bản Do Thái.
Đối với người Do thái , Thiên Chúa là Một (chỉ có MỘT Chúa) , là Đấng Duy Nhất (ngoài Ngài ra, không có ai khác là Thiên Chúa), là toàn thể (không chia Ngài ra nhiều được), là tuyệt đối, ở khắp mọi nơi và đáng kính sợ.
Mỗi ngày mỗi người Do thái phải niệm nhiều lần câu này :
" Shma Yisrael Hashem Elokenu Hashem Echad - Hear O Israel, Hashem is our G-d, Hashem is the One and Only - Hỡi Israel hãy nghe đây , Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa Duy Nhất (ĐnL 6:4)?
Không có tên gọi nào xứng hợp để dùng gọi Ngài, nên vì thế họ không dám gọi tên Ngài. Họ chỉ nhắc đến Ngài bằng chữ “HASHEM”, nghĩa là cái “TÊN”. Nhưng khi đọc lên thì họ lại đọc từ “HASHEM = Tên” bằng cách phát âm là “Adonai”.
Sau này họ dùng bốn ký tự đánh vần là yud, hey, vav và hey để biểu thị Thiên Chúa . Viết bằng mẫu tự Latinh chúng ta có bốn phụ âm Y-H-W-H . Muốn đọc lên, các rabbi phải thêm các nguyên âm vào. Và tùy nhiều cách mà người ta có thể đọc thành “YeHoWaH” hay “YaHoWeH”.
Nhắc thế để trở lại câu Stk 4:26 :
“ az huchal likro beshem HASHEM. ”
Then men began to call [idols] by the name HASHEM.
Nguyên bản Do thái dịch theo sát nghĩa từng chữ: “Bấy giờ con người bắt đầu gọi [các thần] bằng cái tên TÊN .”
“Shem” là “tên” và “beshem” có nghĩa “nhân danh”, “bằng cái tên” . Còn “likro” là “gọi”và “huchal” là “bắt đầu” . Tùy vào cách hiểu ngữ tố “be” là “nhân danh” hay “bằng”, chúng ta có thể hiểu câu này theo hai nghĩa khác xa nhau.
Vậy nếu hiểu “ Az Huchal liKro b'Shem YHVH - "Vào thời điểm ấy [thời của Enosh, cháu Adam] người ta bắt đầu gọi đến/bằng Tên của Chúa". Như thế câu này cho chúng ta biết rằng lúc đó người ta bắt đầu kêu danh Thiên Chúa, nghĩa là biết cầu nguyện, biết đọc kinh.
Hay nếu hiểu là “ Vào lúc ấy ngưòi ta bắt đầu gọi ... bằng Tên Thiên Chúa” nghĩa là gọi [những thứ khác] là “Thiên Chúa”. Nghĩa là bắt đầu biết thờ ngẫu tượng, biết đa thần.
Thế mới có chuyện ! Chúng ta thử nhìn vào bản dịch BJ. Bản này cho “ Enosh” là người đầu tiên gọi Tên Thiên Chúa. Có thể hiểu được nhu thế vì như chúng ta đã nói, tên “ Enosh” có nghĩa là “ con người”, nhưng nhấn mạnh ở khía cạnh “ mang phận tử sinh” của nó.
“ BeShem HaShem - Gọi Tên Thiên Chúa” trong phụng tự, trong nghi lễ, thay vì dâng lễ vật như trước kia.
Giá mà Cain, thay vì bày ra việc “ dâng lễ vật”, đã có sáng kiến “ cầu khẩn tên Thiên Chúa”, thì vụ án mạng đầu tiên hẳn đã không xảy ra !
Gọi Tên Thiên Chúa, dù Ngài có đáp lời hay không, chúng ta không biết. Nhưng có điều rõ ràng là việc tế tự đã tiến thêm một bước dài. Con người tiếp cận Thiên Chúa không qua quà cáp, lễ vật, nhưng qua lời nói và chỉ bằng lắng nghe.
Khi “ BeShem HaShem - Gọi tên Thiên Chúa” loài người đã hiểu rằng tương giao với Thiên Chúa – nghĩa là “tôn giáo” - không cần qua các phương tiện vật chất, hoặc qua phẩm và lượng có thể gây nên nỗi ganh tỵ , nhưng là qua “ thành”, “tâm”, “tôn” và “ kính” .
Nguyễn Đức Khang
|