Chín nhớ Nguyễn Đức Khang 63
Kỷ niệm một: Ý tưởng đi tu
Năm 1962
Khoảng tháng 10. Gia đình tôi di chuyển từ Tuy Hoà về lại NhaTrang. Ba tôi được đi tập huấn một vài khoá về tác xạ, nên xin đổi từ ty cảnh sát Tuy Hoà về nha cảnh sát miền Trung tại Nha Trang. Thế là tôi lại trở về giáo xứ gốc Ba Làng, nơi đã bỏ đi từ năm 1958. Cha xứ đề nghị ba tôi phải nhận một chức vụ gì đó trong Hội đồng giáo xứ thì mới cho mua đất trong phạm vi giáo xứ. Thế là ba tôi phải nhận chân thư ký và nhà tôi trở thành láng giềng của nhà chú Nguyễn Bình An.
Vài tháng sau, tôi được nhận vào trong ban giúp lễ. Lý do là bọn trẻ con cùng lứa tuổi tôi trong làng lúc bấy giờ không có là bao. Hơn nữa lúc ở Tuy Hoà, tôi đã được giúp lễ. Thời học kinh giúp lễ đối với tôi là cả một kỷ niệm tuy trần ai, nhưng thật đẹp. Mọi kinh đều dễ thuộc. Duy chỉ có kinh Cáo mình Confiteor Deo thì khá lắc léo ở chỗ có hai chỗ giống nhau. Lúc đầu thì “beatae Mariae”, lần sau thì “Ideo precor Beatam Mariam”:
“Confiteor Deo omnipotenti, beatae Mariae semper Virgini, beato Michaeli Archangelo, beato Ioanni Baptistae, sanctis Apostolis Petro et Paulo, et omnibus Sanctis, et tibi pater, quia peccavi nimis cogitatione, verbo et opere: mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa. Ideo precor beatam Mariam semper Virginem, beatum Michaelem Archangelum, beatum Ioannem Baptistam, sanctos Apostolos Petrum et Paulum, et omnes Sanctos, orare pro me ad Dominum Deum nostrum. Amen."
Thằng bé làm sao mà nhớ nổi “bêatê” với “bêatam”. Đọc một mình mà chậm rãi thì thuộc. Còn khi khảo bài, thì phải ba lần thi lại mới được chấp nhận cho vào ban giúp lễ. Ấy là chưa kể trong vài tháng đầu tiên, lúc thực sự giúp lễ, thì... quên hết mọi sự. Lúc khẩn cầu đến các thánh, bụng đánh lôtô, trán toát mồ hôi, tim đập thình thịch. Mấy tên giúp lễ lớn hơn mách cho mánh khóe: đọc lâm râm trong miệng giả bộ thuộc thôi, đến chỗ “Et tibi pater” thì quay vào cha và đọc to lên. Còn ba lần “mea culpa” thì khỏi nói. Lễ xong, cha vừa cởi áo vừa điều tra: “Khang, lại đây! Đọc kinh Confiteor lại coi!”
Năm 1963
Một hôm, có một chị dự tu giúp việc trong Nhà dòng mến thánh giá báo cho tôi biết là có cha Ban trong chủng viện muốn gặp. Quả thực cho đến lúc bấy giờ, tuy là hàng xóm với chủng viện, nhưng tôi chưa biết chủng viện là gì và ở chỗ nào. Lúc bấy giờ cha Ban mới nhận chức tuyên úy Trường hạ sĩ quan, và hằng tuần có ra nhà thờ Ba Làng làm lễ chúa nhật cho các khoá sinh Công giáo. Khi tôi về nói cho cha mẹ tôi biết chuyện, thì cả nhà đều ngạc nhiên. Và quả thực lúc ấy không ai trong nhà nghĩ đến việc tôi đi tu. Dĩ nhiên khi xuống đến chủng viện, gặp cha Ban, thì rõ ràng ngài chẳng hề biết tôi mà cũng đâu có ý định muốn gặp tôi làm gì? Nhưng từ lúc ấy thì gia đình lại có ý định cho tôi đi tu. Nhờ chú tôi nói vào và xin, cha xứ đồng ý cấp giấy chứng nhận và giới thiệu để cho tôi vào danh sách thi vào chủng viện.
Ngày 23 tháng 05 năm 1963, tôi và bốn người khác trong xứ vào tiểu chủng viện Sao Biển dự thi. Sau hai ngày thi, trong số hai trăm bạn cùng trang lứa trên toàn giáo phận thi vào niên khoá 1963-1964, chỉ có bốn mươi lăm người đậu. Xứ tôi chỉ có hai người trúng tuyển: Nguyễn Văn Khải và tôi.
Kỷ niệm hai: Cái áo dài và capitaine Haddock
Hai tuần sau khi thi, chúng tôi nhận được giấy báo trúng tuyển của chủng viện. Thực ra tôi đã biết trước được kết quả, nhờ có tuyau bên trong. Lúc ấy ở Ba Làng, đã có nhiều đàn anh đi chủng viện, mà cả giáo xứ gọi là các "chú chủng viện" như chú Nguyễn Bình An (bây giờ đã là linh mục, coi xứ Bình Cang) đang học troisième, hai chú Nguyễn Đăng Khoa và Hồ Trí Thức, rồi đến chú Hiệu. Trên lớp tôi còn có hai chú Trần Văn Thành và Hoàng Huy Ngạn.
Chao ôi, đối với tôi và với mọi đứa trẻ khác trong xứ lúc bấy giờ, các “vị” ấy cao trọng và “dễ nễ” quá sức. (Từ “dễ nễ” này hồi ấy chưa dùng. Chỉ được dùng nhiều vào khoảng năm 1965 trở đi, lúc Cha Nho về và dạy Latinh). Trong nhà thờ họ có ghế dành riêng ở hai bên cung thánh, vì thế mọi người trong nhà thờ, già hay trẻ, khi ngó lên đều thấy các vị ấy trước khi thấy cha trên bàn thờ.
Vả lại, chúng tôi thấy quỳ riêng mà “coram populo, trước mặt cả và thiên hạ” như thế thật là cao sang hết sức và “đáng quý trọng nhường bao”. Nhưng vài năm sau, tôi mới thấy quỳ ghế riêng như thế quả là cực hình. Không thể bỏ một kinh chiều lễ sáng nào, cũng không thể đi trễ một bữa nào vì cả nhà thờ đều sẽ biết. Nếu lỡ ngủ quên, đi trễ, thì thà ở nhà khai bệnh luôn cho đỡ mắc cỡ, lại còn có lý do chính đáng!
Vì Ba Làng ở gần chủng viện, nên dù là về nghỉ hè, các “chú nhà trường” ấy ngày một ngày hai đều rủ nhau đạp xe vào chủng viện để chơi. Cha xứ đã nhờ các chú ấy hỏi dò xem năm ấy ai trong giáo xứ chúng tôi được trúng tuyển. Nhờ thế, trước khi nhận được giấy báo về nhà, tôi đã biết mình được “vào chủng viện”.
Ngoài quần áo riêng mặc thường ngày và hai ba bộ đồ “phăng” (áo sơ mi và quần tây), tôi còn phải may thêm hai cái áo dài và hai, ba cái quần ta màu trắng, như các cố trong làng thường mặc. Thêm cái nón cối trắng. Ba tôi còn cẩn thận mua một hộp phấn trắng để đánh trắng cái nón cối, vì sau mỗi lần đi mưa, cái nón cối bị hoen nước vàng do chất bần lót bên trong thấm nước nhĩ ra. Tất cả được xếp gọn trong một cái vali có lớp ngoài bằng vinyl giả da, mà tôi dùng mãi cho đến năm 1968, khi “lên Chúa Chiên Lành Đà Lạt” mới thay đổi cái vali khác. Đóng nguyên bộ vào: áo dài đen quần ta trắng đội nón cối, tôi trông y hệt như hình “Tuấn, chàng trai nước Việt” truyện dài của Nguyễn Vỹ đăng nhiều tập trong báo Phổ Thông đầu thập niên 60.
Vài hôm sau, tuy chưa chính thức khai giảng, nhưng tôi đã được theo chân các chú lớn trong xứ như An, Thức, Khoa, Ngạn, Thành hằng ngày vào chủng viện để chơi. Tôi chưa biết chơi ping pong, nên được dẫn vào chào cố Tây quản lý: cố Gervier, và được ngài cho xem truyện tranh “Tintin et Milou”. Lần đầu tiên trong đời, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến lúc đó, tôi mới có dịp xem một cuốn truyện tranh bằng tiếng Pháp. Thấy các chú lớn nói chuyện bằng tiếng Pháp với cố Gervier, chao ôi, tôi thật hâm mộ và khâm phục hết sức. Lòng lại bắt đầu lo lắng tự hỏi không biết mai đây, khi nhập trường rồi, mình có học được và nói được tiếng Pháp như vậy hay không.
Nhưng cái ngạc nhiên lớn nhất của tôi lúc bây giờ là tôi thấy cố Gervier giống như đúc cái ông capitaine Haddock trong truyện Tintin. Cũng cái hàm râu quai nón để rậm chung quanh miệng, và khi giận lên thì mặt cũng đỏ tía lên như thế. Tôi nghĩ trong lòng: Thảo nào, truyện của ổng cho nên ổng mới có nhiều như thế! Và cố Gervier thân yêu của chúng ta, đối với tôi chính là capitaine Haddock trong hình. Phải vài ngày sau tôi mới dám hỏi điều nghi hoặc ấy với chú Thức, khiến chú ấy được một dịp cười. Chú ấy đem chuyện này nói lại với cố và tôi đã bị cố bẹo má...
Kỷ niệm ba: Tiếng chuông Sao Biển
Năm 1963
Ngày 20 tháng 6: Ngày tựu trường chủng viện đầu tiên.
Vì gần nhà nên chúng tôi có một lợi điểm. Từ sáng đã dùng xe đạp chở đồ xuống chủng viện. Nhận giường, mắc mùng, lấy cái ca, cái bàn chải đánh răng và hộp kem đánh răng Hynos đến chỗ rửa mặt để "xí" cái robinet cho mình. Sau đó thẫn thờ đi ra phía cửa sổ, ngó qua Dòng Kín, và xa hơn nữa là Hòn Khô, ngọn núi mà bao nhiêu năm qua chúng tôi sống bình lặng dưới chân, nhưng không thấy thân thiết. Chỉ giờ đây, khi mường tượng rằng từ nay sẽ phải sống xa nhà, tôi bỗng dưng thấy ngọn núi thân thiết với mình quá đỗi. Thằng bé đã băt đầu thấy nhớ nhà...
Sau đó tôi xuống phòng học nhận chỗ. Năm đầu tiên lớp tám, ở hai bên chỗ tôi ngồi, tôi đọc thấy hai cái tên xa lạ, Đào Đức Kim và Đoàn Ngọc Châu (Cụ Sáu Châu ơi, cụ có còn nhớ chi tiết này không?) Đến gần trưa, xong xuôi mọi việc, chúng tôi đạp xe về nhà. Chờ cho đến bốn rưỡi năm giờ mới chính thức đi bộ băng đường dọc bờ biển xuống chủng viện nhập học.
Đúng sáu giờ chiều, một hồi chuông ngân vang (năm đó chú Châu có nhiệm vụ giữ chuông, sau này là cha Võ Kinh, Nguyễn Bình An...), tim tôi giật thót lại và mắt tự nhiên mờ đi. Bỗng dưng tôi nhớ nhà quá nên nước mắt lưng tròng hồi nào mà không hay. Mọi người đứng xếp hàng bên phòng étude chính, nhỏ trước lớn sau, lớp huitième đứng trước, lớp septième đứng sau. Mọi người im lặng đi vào nhà nguyện, và cứ năm ngườì một hàng ghế. Lúc đó thầy Phong, giám thị, thấy tôi đứng cao nên đổi lùi xuống một hàng ghế. Thành thử, trong nhà nguyện tôi được quỳ bên Lê Ánh (Tư Lộ).
Đêm hôm ấy, tôi nghe rõ mồn một từng tràng đạn tập bắn, từng tiếng mìn nổ từ trường Hạ sĩ quan vọng về. Và cả từng tiếng sóng biển. Những âm thanh đó, từ trước tới giờ tôi không hề để ý, nhưng bắt đầu từ hôm ấy hằng đêm tôi nghe rõ. Đôi khi vào Mùa chay, tiếng đọc kinh ở nhà thờ Ba Làng vẫn vọng đến bên giường ngủ. Nhất là ban sáng, cả ba bốn tiếng chuông của nhà thờ Ba Làng, Thanh Hải, Dòng Kín vang lên trước khi đến tiếng chuông của chủng viện. Tất cả những âm thanh ấy, sẽ chẳng bao giờ chúng tôi quên được.
Kỷ niệm bốn: chuỗi Mân Côi
Trong số những kỷ niệm đầu tiên “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên đó”, có một hình ảnh vẫn đậm nét trong lòng tôi. Đó là buổi lần chuỗi đầu tiên. Hai lớp bảy và tám, xếp hàng đôi dọc theo phòng étude chú nhỏ, vừa lần hạt, vừa chậm rãi đi dọc tới hàng thông giữa sân chủng viện nối hai dãy nhà, rồi vòng lại cho tới nhà chơi chú nhỏ bên cạnh phòng refectorium. Điều đáng nói là chúng tôi lần hạt bằng tiếng Latinh. Nói “chúng tôi” thì không đúng lắm, bởi lúc bấy giờ chỉ có các chú lớp bảy lần hạt thôi, còn lớp tám mới vào thì... ngọng. Lúc bấy giờ dưới mắt tôi, những chú Ngạn, chú Thành… sao mà giỏi thế. Đọc kinh bằng tiếng LaTinh!
Với tôi, chú Nguyễn Quang Vinh là số một. Bây giờ cũng thế. Tôi biết chú ấy trước khi thực sự nhập trường. Trong mùa nghỉ, chú ấy thỉnh thoảng vào chủng viện chơi ping pong và bóng chuyền. Thấy chú ấy nói chuyện bằng tiếng Pháp với cố Lành (Gervier) như gió, thằng bé đã hãi lắm. Bây giờ các đấng ấy lại còn đọc kinh bằng tiếng Latinh nữa thì quả là...
Tôi vừa đi vừa thầm cầu xin Chúa và Mẹ “soi sáng mở lòng mở trí” cho cái óc đất của mình học hành tấn tới. Và từ đó tôi đã biết sợ bị đuổi về vì học dốt.
Kỷ niệm năm: sách học và bài “La Chèvre de Mr Seguin”
Ngay buổi chiều nhập học là chúng tôi đã từng lớp theo thứ tự đi nhận mỗi người một chồng sách giáo khoa. Trong muà hè, cố Lành đã soạn sẵn cho từng người. Kho sách lúc bấy giờ là một phòng nhỏ, gần nhà nguyện nằm phía Dòng kín, đấu lưng với phòng hớt tóc. Kho sách này quanh năm suốt tháng đóng cửa im ỉm. Chúng tôi lớp tám, 1963, là năm chủng viện dùng cuốn Le Francais Elementaire 1 và 2 và phải học xong hai cuốn này chỉ trong lục cá nguyệt đầu tiên, với thầy Phong. Nhân vật chính trong sách là thằng bé Pierre. Ngoài ra còn cuốn “La famille Dupont”. Cuốn này cũ rồi. Bìa màu nâu và giấy vàng.
Chúng tôi chỉ học một vài bài trong cuốn này mà thôi. Hình như trong cuốn này, lên năm septième, cố Gervier bắt chúng tôi học đến thuộc lòng bài “La Chèvre de Mr Seguin”. Cho đến hôm này tôi vẫn còn nhớ rành rọt đoạn mở đầu như sau: “Mr Seguin n’avait jamais eu de bonheur avec ses chèvres. Il les perdait toutes de la même facon. Un beau matin, ils cassaient la corde, s’en allaient dans la montagne. Et làhaut le loup les mangea...”
Nhân vật số một thuộc lòng trong lớp chúng tôi là Lê Tứ. Hắn giỏi thuộc lòng đến độ, năm troisième, hắn viết nguyên văn một chương cuốn Histoire trong một bài thi, đúng đến từng dấu chấm phẩy. Cha Nedelec và các cố Tây khác đã phải bái phục. Môn grammaire chúng tôi được thầy Nguyễn Cao Cầu dạy. Thầy soạn riêng, hình như theo cuốn văn phạm tiếng Pháp của giáo sư Đắc: khá đầy đủ và rõ ràng. Mỗi vấn đề là một bài ngắn, chừng nửa trang giấy vở được chúng tôi nắn nót viết thật đẹp. Chỉ lên năm septième, chúng tôi mới có cuốn Grammaire Francaise. Cuốn này đầy đủ và dùng cho đến năm Troisième mới thôi. Mỗi bài học chỉ dài chừng một, hai trang, nhưng bài tập thì nhiều, chi chít đến bảy tám trang. Sách toán năm lớp tám chúng tôi có cuốn Arithmetique của nhà xuất bản Hachette. Đều là toán lớp nhất, nhưng có điều là học bằng tiếng Pháp. Chỉ mãi lên năm sixième, chúng tôi mới bắt đầu học Algèbre, sách của Lebossé, với cha Ngọc. Chính cha Ngọc đã làm cho tôi thích học toán. Nhất là vì cuốn sách toán Lebossé nổi tiếng. Rõ ràng và dễ hiểu. Các bài tập rất sư phạm, còn hai cuốn khác là cuốn Algèbre và Géométrie của Une Reunion de Professeurs. Do nhà xuất bản Hachette.
Cố Lành là người dạy vỡ lòng Géometrie cho chúng tôi, và lên năm troisième là thầy Xin. Cho đến hôm nay chúng tôi vẫn ghi ơn cố Lành về cách dạy toán của cố. Rất hay và rất sư phạm. Sau này tôi có giỏi và thích học toán và theo được serie D là cũng nhờ căn bản toán học trong tiểu chủng viện! Lúc ấy chúng tôi còn nghe kháo với nhau rằng cố Lành say mê toán. Hễ rảnh rỗi là lôi sách toán ra để giải. Hình như cố còn một vài bài toán mà mấy năm rồi vẫn chưa giải... Căn bản toán này, sau này giúp tôi rất nhiều khi dạy lại đám trẻ trong giáo xứ những năm khốn khó sau 75 và nhất là khi học về Computer Science, phần viết các algorithm cho vấn đề “sort = xếp thứ tự” các data. Môn histoire có cả một serie sách Histoire của nhà nhà xuất bản Hachette. Lớp tám học về khái niệm về lịch sử, rồi sử thời tiền sử, thời tiền chữ viết, thời thượng cổ, các thời văn minh cổ đại ở vùng đất Âu châu ngày nay, thời Sumeriens, thời đảo Crète, thời Babylone, thời Hy lạp, rồi thời La mã. Sau đó bị các sắc dân barbarie như Huns, Francs từ bên kia sông Rhine và Danube nam tiến, chiếm đóng và trở thành tổ tiên cho các nước Âu châu ngày nay. Sau đó từ năm troisième trở đi là học chuyên về sử của nước Pháp. Môn géographie cũng tương tự. Ban đầu học về Trái đất, các thời kỳ, các lục địa được thành lập, rồi học riêng từng châu, bắt đầu là châu Phi, châu Á , châu Mỹ , châu Úc. Sau cùng mới tới châu Âu, để rồi học riêng về nước Pháp năm troisième. Và năm nào cũng có một cuốn sách nhỏ, Le Savoir Vivre, học về cách xử sự và nếp văn minh lịch sự cần phái có của người lịch lãm. Từ cách đi đứng ăn nói chào hỏi, cho đến cách viết thư... Về Việt văn thì chỉ có hai cuốn Cổ văn và Tân văn, tôi không còn nhớ tác giả. Thầy Thế phụ trách dạy môn Việt văn chúng tôi năm lớp Tám. Năm ấy cũng chỉ là tập tả cảnh và sự vật. Tôi còn nhớ năm ấy chúng tôi còn chuyền tay nhau đọc và chép bài văn tả người mẹ của một anh người Thượng, lớp trên, đã về khi chúng tôi vào lớp tám. Bài văn rất hay và cảm động. Sau này, một người trong lớp tôi, anh Miên, cũng nổi tiếng với một bài luận văn, không phải vì hay, nhưng vì quá dài, 24 trang giấy học trò.
Kỷ niệm sáu: sổ mua đồ và việc giặt đồ
Ngay hôm nhập trường, chúng tôi không được giữ tiền riêng nữa. Tiền túi tiêu vặt phải nộp cho cố Gervier. Cố phát cho mỗi anh một cuốn sổ nhỏ, ghi số tiền riêng ký quỹ. Mỗi lần mua đồ, hình như là hằng tuần vào chiều thứ năm. Cố mở cái cửa sổ nhỏ dưới chân cầu thang dẫn lên phòng ngủ chú Nhỏ. Anh em, xếp hàng tuần tự để mua đồ lặt vặt. Thường là thuốc giặt, bàn chải đánh răng, thau, bàn chải giặt quần áo, thuốc đánh răng, và banh... ping pong. Tập để viết thì năm lớp tám chúng tôi được phát không. Những năm sau phải mua.
Mỗi lần mua món nào, ngài biên vào tên món hàng và giá tiền, rồi trừ dần đi cho đến cuối năm.
Bao nhiêu năm sống trong chủng viện, việc mua sắm được giản lược tối đa. Chúng tôi không cần mua, và cũng chẳng mua được gì khác ngoài những vật dụng tối cần thiết. Thói quen ấy thấm nhiễm vào người hồi nào không hay mà chính tôi cũng không để ý. Sau này chính tôi lấy làm ngạc nhiên không hiểu tại sao có người lại thích đi chợ hay đi mua đồ thế, nhất là các bà! Tôi cứ nghĩ, cần gì lắm thì hãy đi mua. Và chỉ mua điều cần mua đã được nghĩ trước trong đầu. Khi bị tôi “càm ràm” vì hay đi chợ và hay đi mua đồ nhà tôi đã mắng át: “Ông thì biết cái gì mà nói! Ông đi tu chứ tôi có đi tu đâu vậy!” Tôi nói vớt vát: “Biết vậy hồi đó tôi cầu cho bà được đi học với cố Lành cho xong! Bây giờ tôi đã giàu nhiều hơn rồi không!”
Một công việc không có trong thời khóa biểu của chủng viện, tuy có câu châm ngôn nổi tiếng “Chaque chose à son temps” thế mà ai cũng hoàn thành một cách chu đáo. Đó là việc giặt đồ. Thường thì chúng tôi cứ đem thau đồ dơ, xả nước vài lần, sau đó pha một gói thuốc giặt, ngâm tất cả vào đấy. Rồi để (anh nào siêng thì “để”, còn anh nào nhác thì “để quên” luôn vài ngày hay cả tuần đến độ cái thau bốc mùi) cái thau đồ trên cái buanderie. Hôm sau, hay khi nào nhớ tới, chúng tôi vò sơ rồi xả vài lần nước, và phơi một nắng. Nắng Nha Trang chỉ cần một nắng là khô. Sau cơm trưa, chúng tôi đem vào và xếp cất dưới gối. Cái gối là cái bàn ủi.
Năm đầu tiên, 1963, chúng tôi còn dùng cái buanderie. Nằm sau lưng hai dãy cầu tiêu, chiếm một nửa nhà chơi. Ban đầu các robinet còn đủ nước để giặt đồ. Sau này đông người quá, nước máy chỉ đủ cho việc rửa mặt, nên chúng tôi phải ra giếng mà múc nước lấy xả quần áo. Còn cái buanderie thì để cho bụi bám. Lá thông rơi đầy làm nghẹt cái khe nước xả ở giữa. Đến mùa mưa năm 1963, khoảng tháng 9, tháng 10, chúng tôi dùng cái buanderie cho một trò chơi “con nhà nghèo”, mà tôi không biết ai đã nghĩ ra đầu tiên. Sàn nhà chơi rất láng. Sau nhiều năm chạy nhảy, bao nhiêu bàn chân của chúng tôi khiến cái sàn ximăng ấy trở thành bóng loáng. Sau cơm tối, vài anh chạy ra trước dẹp bớt cái bàn pingpong, rồi đổ lên trên sàn vài gáo nước cho sạch cát, cởi hết đồ ra chỉ còn trần xì cái quần đùi, nằm ngửa co chân đạp vào thành cái buanderie, thế là trượt từ đó cho tới gần nhà cơm. Chỉ có thế nhưng chúng tôi lấy làm thích thú. Sau vài phút e ngại, dần dà có nhiều người nhập cuộc. Trong danh sách tôi chỉ còn nhớ có Lạc, Phong, Tánh, Thúy Lucas...
Trò chơi kéo dài được vài tối, cho đến khi có ai mách thầy giám thị.
Kỷ niệm bảy: đảo chánh - trò chơi chính trị và những trò chơi trẻ thơ trong Chủng Viện
Ngày 1 tháng 11 năm 1963
Chúng tôi không biết gì đến biến cố này cho đến khi ăn cơm tối ra. Như thường lệ, cơm tối xong, chúng tôi được 45 phút giải trí. Chúng tôi uà nhau đi chơi “lùa heo”! Chỉ với một cành dương ngắn và một cái lon sữa bị đã móp méo, chúng tôi đủ vui nhiều tối. Có nhiều anh muốn cho chắc ăn, dùng cả một tàu dừa xiêm khô làm gậy để lùa “heo”. Một số khác đang chơi trò “năm mười”. Cũng chạy trốn đi tìm như mọi trẻ thơ Việt Nam khác lúc bấy giờ. Trò chơi này Dũng “cò ma” thích chơi lắm.
Tối hôm ấy tự nhiên thấy nhiều chú lớn và chú trung lên phòng cha Ban. Và cha Ban lại mở radio thật to cho mọi người nghe. Chúng tôi vẫn ham chơi, nhưng tôi nghe rõ radio đang loan báo danh sách các tướng lãnh nào đã theo phe đảo chính. Cuối cùng tôi nghe có tên đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy trưởng Trường hạ sĩ quan Đồng Đế. Lúc ấy tôi cũng đã cảm thấy được tình hình nghiêm trọng của biến cố này. Và mơ hồ nghiệm được rằng vận nước đang bắt đầu thay đổi.
Nhưng đó là trò “chơi dại” của người lớn và của những người “tưởng mình là lớn”. Đối với lớp huitième chúng tôi năm 1963, trò chơi thú vị và bình dân nhất vẫn là chơi bi (bille). Mấy bàn ping pong thì khó mà giành nổi với lớp septième. Các anh ấy thì đã quen và đã biết chơi. Chúng tôi mới từ ngoài giáo xứ vào, thì đâu có ai biết chơi ping pong? Mà cả cái tên ping pong hay bóng rổ (basket ball) thì vào chủng viện mới biết đến. Mà bàn ping pong thì chỉ chơi được có hai người. Ít khi có ai đánh đôi. Chẳng lẽ cứ đứng “chầu rìa”? Thành thử, năm ấy cố Gervier có bán thêm bille để các chú chơi.
Đoạn này thú vị đây. Không phải chỉ có lớp huitième mới thích chơi bille, nhưng tôi còn nhớ, lúc bấy giờ các chú trung cũng ham chơi lắm. Hình ảnh Lưu Hồng Điệp, tuy lớp trên, nhưng nhỏ con, nghĩa là vẫn còn nhiều chất thơ ấu, hăng say chơi bi với Nguyễn Long Định còn đậm nét trong tôi.
Trong lớp, tôi phục tài chơi bi của Trần Văn Cư.
Bác Cư ơi, kể chuyện của bác, bác bỏ qua cho nhé. Bác Cư chỉ dùng ngón giữa, co lại và kẹp hòn bi giữa ngón tay giữa và ngón cái thôi, búng ra một cái là trúng đích. Thật là kỳ tài. Tôi ít khi dám chơi với bác. Vì chắc chắn là thua. Các bạn còn nhớ chơi bi vòng chứ? Chỗ của bác Cư hay chơi là ngay nơi bực thang, đầu hàng thông giữa sân. Chỗ ấy tương đối bằng phẳng và nhiều lá thông.
Một cái vòng to chừng bằng diện tích cái bàn thôi, hai người đặt bi của mình vào trong vòng đó bất kỳ chỗ nào. Anh nào nhát, sợ thua, thì đặt bi của mình gần “chạch” và xa bi của đối phương. Thay lượt nhau để bắn, bi của ai ra ngoài vòng vì bất cứ lý do gì đều bị thua. Ai không dám bắn thì có thể di chuyển bi của mình xa đối phương thêm một chút, nếu sợ, hay gần thêm chừng gang tay, để nhử. Có lần tôi đã để bi của mình ngay trên vạch, vậy mà bác Trần Văn Cư co ngón tay búng một cái, bi của bác thế chỗ bi của tôi. Phép lạ ấy không phải xảy ra một lần, mà nhiều lần như thế cho nhiều người. Từ đó tôi “cạch”, không dám chơi bi với bác Cư nữa.
Bác thứ hai mà tôi cũng không dám chơi bi với là bác Lê Tứ. Vì chơi bi dở, sợ bị “chung” bi (đưa bi của mình cho kẻ thắng), mất bi để chơi, nên những anh nào chơi dở, thì chơi với nhau. Ai thua thì bị bắn bi vào lưng bàn tay. Chao ơi, các bạn còn nhớ bàn tay của bác Lê Tứ, phải không? Bàn tay “agricola” của bác, đã quen với công việc đồng áng của xứ Thuận Nghĩa, và các ngón tay đã dầm mưa dãi nắng “đòi phen” ấy mà phóng viên bi đã sần sùi vào “trốc” bàn tay của mình thì phải nói là đau ứa nước mắt, các bạn ạ. Tôi bị một lần thôi, rồi chết khiếp.
Kỷ niệm tám: nguyện gẫm
Đối với tôi, có lẽ cái khác biệt lớn lao nhất giữa đời sống trong gia đình trước kia “hồi còn” ở ngoài giáo xứ và cuộc sống hằng ngày trong chủng viện bây giờ, đó là việc nguyện gẫm. Đi học, xem lễ, đọc kinh, ăn uống, dọn đồ lễ thì ở hai nơi đều giống nhau. Nhưng còn việc nguyện gẫm thì mới mẻ quá. Nguyên cái tên gọi cũng lạ tai và không biết nghĩa là gì? “Gẫm”?
Mới sáng sớm đang còn ngái ngủ, nghe hồi chuông báo thức giật, là tức tốc quỳ xuống bên cạnh giường mà đọc kinh Cám ơn và Dâng mình. Tôi quên mất kinh này rồi. Các bác nào còn thuộc xin nhắc lại giùm. Đốc Thực ơi, pouvez-vous m’aider en ceci? Sau đó là tức tốc rửa mặt, quần áo chỉnh tề, dĩ nhiên là áo dài đen và quần ta màu trắng. Rồi xếp hàng vào phòng étude. Mỗi sáu tháng (?) một bác có nhiệm vụ lớn tiếng đọc sách Gẫm cho mọi người nghe để “suy niệm trong lòng”. Sách gẫm của Cha Phaolồ Quy, địa phận Quy Nhơn, soạn ra. Ngôn từ thì “cổ”. Mà vì “cổ” nên “mới” đối với chúng tôi. Tôi vừa nghe vừa suy nghĩ, cầu nguyện thì ít, nhưng lo ra thì nhiều.
Trước mặt là cái đồng hồ quả lắc Westminster, treo cao trên cột. Cứ 15 phút thì “tính tình tinh tình”. Liếc liếc nhìn chéo ra bên ngoài thì trời càng ngày càng ửng sáng. Bên trái phòng étude chú nhỏ là hai hàng thông càng ngày càng cao che khuất cái cổng ra vào suốt ngày đóng im ỉm. Con đường Thanh Hải dẫn ra biển ít khi có người qua lại. Bên kia đường là vườn na Dòng Kín và thấp thoáng mái nhà dòng đỏ thẫm loang lỗ vết rêu đen. Trên cao hơn hết là Hòn Khô, phía xa xa. Nhìn chéo sang bên phải là một phần mặt biển, thấy được thấp thoáng qua hàng thông giữa sân nối liền hai dãy nhà. Mặt biển càng ngày càng sáng dần lên dưới ánh hồng sắp mọc vào những ngày đầu hạ.
Lúc bấy giờ, nửa sau năm 1963, một nửa dãy nhà bên chú lớn đang xây thêm, chưa xong. Đó là dãy nhà có phòng lab của cha Laroque, sau này biến thành nhà bệnh (infirmerie). Xa hơn nữa, qua một cái khe nhỏ không bao giờ có nước, và một khoảng đất trống toàn cây bồn bồn và cây gai yết hầu, là dãy nhà của những người giúp việc nhà bếp, sát hàng rào chủng viện. Cạnh đó là sân đá banh, đầy gai yết hầu.
Thời bé tí teo, đang tập nguyện gẫm thì trí óc cứ hay lo ra tưởng tượng như thế. Chỉ biết khi nghe đến đoạn “Cây bông thiêng liêng” thì biết là hết bài. Và hết giờ nguyện gẫm. Chuông rung, đứng lên. Thầy giám thị xướng kinh Nhật một “Angelus Domini nunciavit Mariae”. Sau đó lại xếp hàng vào nhà nguyện xem lễ.
Lễ xong là giờ ăn sáng.
Kỷ niệm Chín: chuyện cơm chuyện nước
Chắc là Chúa nuôi chúng tôi. Chứ, các bạn nghĩ xem, tuổi đang sức lớn, mà cơm hằng ngày thì chỉ có một nồi cơm và bình thường là mấy con cá nục. Nếu to bằng hai ngón tay thì mỗi ngườì hai con. Nếu là cá ốp cỡ ba ngón tay thì mỗi người một con. Nếu to bằng bàn tay thì mỗi người nửa con. Thay đổi nữa là một đĩa cá cơm, mà Ba Làng chúng tôi gọi là cá trỏng. Một chút rau sống. Có chút canh. Thỉnh thoảng biển động thì mỗi người một cái trứng luộc. Ăn sáng đôi khi chỉ là một dĩa moi khô trộn với chút dứa. Anh nào cũng lấy phần đồ ăn của mình vào dĩa, rồi rưới nước mắm thật nhiều. Sau đó là vài xúc cơm cho đầy dĩa. Cuối cùng là một ca nước lạnh múc từ giếng lên cho trôi cơm. Xong bữa. Và no bụng. Tráng miệng thường có một trái chuối, mà đôi khi chúng tôi dùng muỗng cắt ra từng lát nhỏ, như một món ăn. Một vài ngày lễ trọng, chúng tôi có môt bữa tiệc nhỏ thịnh soạn hơn. Thường là có món càri thỏ nấu thật cay với măng trúc.
Sau này lớn dần, anh nào đi dạo mà hái được trái ớt, thì quả là hạnh phúc. Thời cố Đạt làm quản lý hay thời cha Ngọc, tôi không còn nhớ rõ – có trồng mấy cây ớt kiểng trong chậu trên hè trước cửa phòng. Chẳng bao giờ mấy cây ớt này có được trái to. Chỉ cần trái ớt dầm với nước mắm là đã ngon bữa cơm rồi. Ăn uống vậy thôi, mà chơi và chạy nhảy thì như “trâu cui”. Ít khi thấy anh nào bệnh tật gì, có chăng là một vài hôm cảm hay cúm xoàng. Sau này vài năm, thời cha Ngọc làm quản lý, thỉnh thoảng ngài còn cho chúng tôi mỗi người một viên thuốc bổ multi-vitamins. Nhưng tôi nghĩ, chẳng có thuốc bổ nào bằng gió biển trong lành từ biển thổi vào, không một chút bụi, không môt chút ô nhiễm nào. Nhiệt độ của Nha Trang lại ôn hoà. Quanh năm không có tháng nào nóng quá, hay lạnh quá. Chỉ một vài ngày có gió nam khô nóng thổi. Mùa lạnh chỉ cần cái áo len mỏng. Nhưng mùa nào thì mùa, tới giờ chơi, ai cũng dành cái sân basket. Chơi cho đến còn 15 phút cuối là alê chạy xuông biển vùng một phát. Tắm chưa đến năm phút là chạy vào dội một gáo nước ngọt. Và một gáo nước nữa để xả cái quần đùi. Thế là kịp xếp hàng vào phòng étude làm bài ban chiều.
Sau này dù đi đâu, dù là chuyển lên Chúa Chiên Lành Đà Lạt để tiếp tục học, hay đi xa hơn nữa sau 75, chúng tôi vẫn nhớ biển và khí hậu tuyệt vời ở Nha Trang.
Các dì
Nhắc tới chuyện cơm chuyện nước thì không thể không nhắc tới nhà bếp và các dì giúp việc chợ búa và nấu cơm.
Cho mãi hai ba năm sau, vào những ngày địa phận tổ chức Tuần cấm phòng cho các linh mục trong mùa hè, tôi mới có dịp đi xuống khu nhà bếp. Lúc đó vì nhà ở gần, chúng tôi phải vào để giúp dọn bàn ăn, giúp lễ và những việc lặt vặt khác. Tới khi đó chúng tôi mới biết khu nhà bếp ngang dọc như thế nào.
Trong năm học, hầu như không có ai được đi xuống khu nhà bếp. Tôi còn nhớ, chỉ mỗi chiều thứ bảy, trước giờ chầu, anh nào phụ trách việc giúp lễ được phép mang bình hương (encensoir) xuống nhà bếp để xin than. Nhưng cũng chỉ được phép đứng ở cuối hàng lang, bên nhà cơm, không được xuống sâu hơn.
Hết dãy nhà bếp nằm ngang, là khu nhà nguyện và nhà ngủ của các dì. Nằm xa vào sau là dãy chuồng heo và khu nuôi thỏ. Nhà bếp lúc bây giờ nấu cơm và đồ ăn trong những chảo gang to tướng mà chắc các dì không có đủ sức để xới. Chỉ có mấy người giúp việc đàn ông lực lưỡng, dùng những cái xẻng to để xới cơm. Lò nấu bằng củi. Cha quản lý thời nào cũng phải mua từng xe củi lớn để có đủ dùng quanh năm. Khi rảnh việc, những ông giúp việc còn phải lo việc bửa củi. Chúng tôi hay đứng ngây người xem mấy ông bửa củi dưới hàng thông thấp, bên nhà chơi chú nhỏ, sau giờ cơm trưa. Một người chuyên cầm và giữ cái chét bằng sắt to bằng cổ tay người lớn. Còn người kia thì dùng búa tạ, to và nặng, nện xuống, phải hai ba lần mới được một thanh. Tuy làm rất nhịp nhàng và quen tay, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi vẫn thấy tay ông cầm chét bị băng kín. Và phải nghỉ việc mấy ngày.
Thời đó tôi còn nhớ và biết tên một vài dì mà thôi.
Nổi tiếng nhất là dì Nữ. Sau này dì trở về và nhập vào dòng Bình Cang. Tôi có dịp gặp lại dì, ngày chở đồ đạc từ chủng viện phân tán lên Bình Cang năm 1979. Cha Vinh chắc còn nhớ chuyện này. Thời còn trong chủng viện, dì Nữ biết cả việc chích thuốc. Ngoài ra còn dì Mười. Già, nên mọi người hay gọi là bà Mười. Một dì còn trẻ, nhỏ con, có vết thẹo ở mắt, giọng nói hơi bị khàn khàn. Tôi không còn nhớ tên. Hình như là dì Hiển. Dì Khanh mãi tới lúc lên Chúa Chiên Lành tôi mới biết. Nhà Dòng gốc (Dinh Thủy) đã hết từ lâu. Nhưng các dì đã suốt đời tận tụy làm công việc hết sức tầm thường là đi chợ, nấu ăn, nuôi lớn bao thế hệ linh mục trong giáo phận. Và thay cho cha mẹ mà nuôi lớn cả chúng ta nữa.
Tôi viết lên đây những hàng này, như một lời tri ân sâu xa gửi đến các ngài, những vị ân nhân của chúng ta, và của mọi gia đình cựu chủng sinh Sao Biển xa gần. Chẳng thể nào chúng ta trả hết ơn cho các ngài, phải không anh em? Chỉ xin Chúa trả cho họ những gì họ cần.
Viết ra mà nước mắt chỉ chực trào. Chúng ta nên làm một chuyện gì cho các dì mới được, trước khi quá muộn.
Nguyễn Đức Khang 63
|