MAIN MENU
VỀ TRƯỜNG LỚP
- Những bước hình thành TCV Sao Biển
- TCV Sao Biển 1961-1967
- ĐCV Sao Biển 1975-1979
- Tiểu Chủng Viện Sao Biển
- Vài nét đặc biệt về TCVSB
- Chủng Viện Nha Trang tại Ðà Lạt
- Mùi Sao Biển
- Một ngày tào lao với Sao Biển
- Nhớ chuyện chơi
- Chúa Chiên Lành năm 2003
- Một thời Sao Biển đã nửa thế kỷ
- Chín nhớ
- Ngược miền ký ức khó nguôi
- Nhớ hai năm cuối ở Sao Biển
- Trang sách
- Thôi rồi trường xưa!
- Thương về Hòa Yên nhớ Sao Biển
- Những đóm lửa Sao Biển
- Chuyện lạ Sao Biển
- Dấu kỷ niệm
- Về thăm trường cũ
- Khởi điểm cho Truyền thống SB
- Âm thanh mái trường
- Leng keng tiếng chuông
- Sân banh Chủng viện
- Hoài niệm
- Giấc mơ Kim Khánh
- Giấc mơ chưa trọn
- Con đường tựu trường
- Ước mong ngày về
Ngược miền ký ức khó nguôi
Hoàng Châu


Năm 1966, trước khi Đức giám mục Marcel Piquet qua đời, lớp 60 chúng tôi và lớp 59 của Hoàng Trung được gởi ra Huế học tại trường Providence. Cùng đi với chúng tôi có cha René Gantier và cha Pierre Larroque để bổ sung giáo sư cho trường. Vì tình hình an ninh lúc đó không có đường bộ, chúng tôi phải quá giang tàu 502. Chuyến đi tuy cực nhưng lại có nhiều điều thú vị. Trong khi tàu dỡ hàng tại cảng Qui Nhơn, chúng tôi được quá vãng trọ tại toà giám mục, đi chơi khuya về phải leo cổng vào nhưng các cha Qui Nhơn sẵn lòng thông cảm. Ra đến Đà Nẵng, tàu cập bến và chúng tôi bắt xe đò ra Huế.
Chúng tôi khá xa lạ với dòng sông Hương lờ lững trôi dưới cầu Tràng Tiền, xuống Đập Đá, qua Vĩ Dạ rồi ra cửa biển Thuận An. Tò mò thích thú với giọng nói thỏ thẻ và êm dịu của các cô gái Huế. Thế là chúng tôi nhập vào cuộc sống của người dân cố đô…

Lúc đó Đức cha Thuận là bề trên tiểu chủng viện Hoan Thiện, Huế. Trong một trận đấu bóng đá giao hữu giữa hai đội Sao Biển và Hoan Thiện, đội khách chúng ta thắng sát nút 2-1, được cha bề trên đãi cho một chầu rượu nho uống thoải mái. Đinh Vĩ Đại, vốn là người săn tin giỏi, đã đưa đẩy và nâng bi Đức giám mục Nha Trang tương lai nên anh em tha hồ uống rượu nho và ăn pommes.
Năm 1967, ngài chính thức thụ phong giám mục và nhậm chức tại công trường Hòa Bình, Nha Trang. Trong ngày nhậm chức, ngài có phát biểu mong cho máy bay cứ bay hoài đừng tới nơi vì sợ gánh nặng đang ở phía trước, “Onus oneri” mặc dù khẩu hiệu của ngài là “Gaudium et Spes”. Lớp terminale không đủ học sinh tại Huế, nên trong niên khóa này, lớp 59 của Hoàng Trung được chuyển lên Đà Lạt học tại Collège d’Adran. Lớp première và seconde (lớp của Nguyễn Long Định, Nguyễn Quang Vinh) vẫn học tại Huế. Đầy những kỷ niệm của bậc second degré. Mỗi lần đi công du tại Huế hoặc ghé đại chủng viện Xuân Bích, chúng tôi đều được phép lên Kim Long để nghe ngài huấn dụ cùng với các thầy đại chủng sinh Nha Trang đang tu học tại đó. Lúc nào chúng tôi cũng được ngài cho một bữa vịt lộn nhậu với bia con cọp, có giới hạn chớ không say xỉn như bây giờ. Tình của ngài đối với các chú và các thầy là như vậy, không khe khắt nhưng thông cảm và thương mến. Niên khóa này, cha Benoit Nguyễn Công Phú thay cha R. Gantier phụ trách chúng tôi. Cha P. Larroque vẫn dạy chimie, physique tại trường Providence…

Tết Mậu Thân, cha Phú, cha Larroque và một số anh em về nhà ăn tết. Còn lại 10 anh em, vì không đủ điều kiện nên đành ở lại xứ người để vui xuân. Giao thừa, tôi và Simon Cường tu gần hết chai Curacao của Anh với mực khô Đại Hàn. Mồng 1 tết đi xem phim ở rạp Tân Tân. Hồ Xuân Lương (61) và Nguyễn Văn Độ (61) theo Thầy Hòa ăn tết tại một giáo xứ địa phận Huế, còn lại tám anh em vui buồn có nhau… Mồng 2 tết, chiến dịch Mậu Thân nổ ra. Chúng tôi tị nạn tại các phòng của các cha Lefas, Duval và Petit Jean, và cuối cùng di tản sang dòng Chúa Cứu Thế vì trường Providence là mục tiêu của những trái rockets từ UTT Mỹ dội xuống. Gian nan khổ cực và thấp thỏm lo âu không biết sống chết lúc nào. Cũng may, cha bề trên Ân dòng Chúa Cứu Thế ưu đãi anh em chủng sinh tị nạn, xếp cho ở trên lầu 2 và ăn uống theo tiêu chuẩn như các anh em đệ tử sinh.

Ba tuần lễ trôi qua trong nguy hiểm và lo sợ, lúc tình hình hơi lắng dịu, chúng tôi hồi cư về trường Providence. Nguyễn Trọng Tôn quen với Jean Poilane (cùng lớp với tôi), nhờ anh ta xin giùm một chiến hạm Mỹ để vào Đà Nẵng. Anh em nào đã có mặt tại bờ sông Hương vào buổi chiều hôm đó, nếu nhớ lại chắc cũng phải rùng mình. Bom đạn bay tứ tung chẳng chừa một ai. Anh em ai cũng đều chổng mông lên trời theo lời thầy Nam, giám thị trường đã căn dặn… Đến Đà Nẵng lúc 1 giờ khuya, xe GMC chở chúng tôi về Nhà thờ chính tòa Đà Nẵng. Sau lễ sáng, vào gặp cha chính Xuyên xin được tá túc, nhưng thấy ngài làm ngơ, tôi và Cường chạy sang cố Charmot cầu cứu. Vốn là một linh mục thừa sai gốc địa phận Nha Trang trước đây, cố Charmot rất chân tình xin bà mẹ dòng Sacré Coeur một phòng bên cạnh phòng của ngài để anh em tạm nghỉ, trong khi chờ đợi một giải pháp mới. Cơm trưa, tối, sáng đều ăn chung với ngài. Thật thoải mái và đậm tình cha con cùng địa phận! Một tuần sau, Mẹ bề trên đã xin được máy bay đưa anh em chúng tôi trở về Nha Trang… Hú hồn!

Về đến Nha Trang cũng vào ban đêm, khoảng 10 giờ tối. Lại xe GMC chở về Toà giám mục. Người đầu tiên anh em gặp là Cha Nguyễn Hoàng Kim, quản lý toà giám mục. Cha mình ngạc nhiên thốt lên: “Tụi bay từ cõi chết trở về à? Sao về được hay thế?” Vắn tắt để còn trình diện với đức cha. Ngài vui vẻ ân cần hỏi thăm từng người, từng biến cố, từng sự việc. Ngài cho người mang ra đủ thứ để anh em dùng: từ rượu nho Đại Hàn, mực khô đến cả xì gà Havatampa và bảo: “Các con cứ ăn uống no say bù lại những ngày gian khổ.”
Buổi sáng vào phòng ăn và ngày kế tiếp, ngài bảo các chú ngồi hai bên và đối diện ngài. Đức cha đích thân mời anh em lấy thức ăn trước làm cho Cha Hạnh, quản lý địa phận, phải cau mày ngạc nhiên. Anh em cũng không dám lấy trước, nhưng ngài nói: “Các con học chương trình Pháp và biết phép xã giao của Tây phương mà”. Ngài lại nói với các cha: “Các chú đã nếm mùi gian khổ trong mấy tuần qua, cần phải bồi dưỡng cho các chú". Ngày hôm sau, ngài cho gọi anh em lên phòng và nói: “Gia đình cha mẹ các con đang rất mong tin các con, bây giờ các con hãy về gia đình để cha mẹ các con an tâm, sau đó cha sẽ liệu”. Và chính ngài phát tiền lộ phí để anh em chúng tôi có điều kiện về nhà.

Tháng 2/68, giấy hoãn dịch của tôi bị thất lạc trong lúc di tản. Khi ngài đi kinh lý tại Hộ Diêm, tôi đã trình bày sự việc trên. Ngài vừa cười vừa nói: “Thì cứ đi Thủ Đức, tiền lương tháng chia đôi”. Ngài bắt tôi và Nhị ngồi nói chuyện với ngài. Ngài nói đủ thứ chuyện: từ chuyện tiếu lâm đến chuyện của mỗi người. Cuối cùng ngài nói: “Ngày mai theo Nhị lên Đà Lạt quét nhà xí cho cha Bích”. Nghe nói thế, tôi đứng dậy xin phép ngài về để chuẩn bị đồ đạc, nhưng ngài không cho và bảo cứ ngồi ở lại chơi, còn việc chuẩn bị sửa soạn để cha mẹ chị em lo. Cha mẹ chị em ở nhà có biết mô tê gì mà lo, nhưng phải vâng lời ngồi lại thôi. Đến 11 giờ khuya ngài mới cho về… Vậy là đoàn tụ lại với lớp đàn anh tiếp tục việc học tại Collège d’Adran, được xe buýt của Viện đại học đưa đón.

Mùa hè 68, sau khi tôi thi bằng tú tài 1 Việt, ngài lại triệu tập ra toà giám mục. Đến Nha Trang, tôi đã thấy Simon Cường ở đó rồi. Hai đứa được ngài sai đi Huế chở sách học về. Lại đi máy bay quân sự do cha Lạc sắp xếp. Cất cánh tại Cam Ranh, máy bay ghé Phú Bổn rồi cuối cùng hạ cánh tại Đà Nẵng. Hai anh em đã có kinh nghiệm nên ghé cố Charmot. Cha con lại có dịp trùng phùng rồi kiếm xe đi Huế. Sau khi thu xếp gọn gàng các thùng sách, hai đứa quá giang xe GMC trở vào Đà Nẵng. Tình hình lúc đó chưa được ổn định sau biến cố, anh em được tin Hồ Xuân Lương bị bắn chết và Nguyễn Văn Độ bị bắt. Đến Lăng Cô, xe GMC chưa được lên đèo vì có giao tranh nhỏ. Hai anh em cùng một cô bé lai khá xinh tên Vân (Cường mới làm quen trên xe) vào nhà cha Phước tá túc qua đêm. Cha Phước trước đây là quản lý trường Providence. Sáng hôm sau, ra xe, đường thông và về Đà Nẵng. Nhưng trớ trêu thay, Đà Nẵng thiết quân luật, không cho dân ngoài địa phương ra vào thành phố! Tôi phải ở lại giữ mấy thùng sách, Cường một mình lẩn vào đám đông chạy về Thánh Tâm cầu cứu. Một giờ sau, xe nhà dòng đến ngả ba Huế đón và bảo lãnh tôi và mấy thùng sách về nhà dòng. Hai anh em nằm chờ để Mẹ bề trên xin chuyến bay. Lại được ăn uống thoải mái vì có cố Charmot. Các soeurs mở tiệc mừng một số chị em đã trúng tuyển kỳ thi tú tài 1. Tôi và Cường thông phần nhưng vẫn lo không biết mình đậu hay rớt.

Hoàn thành nhiệm vụ, tôi về tới Nha Trang gặp Nguyễn Chí Cần đầu tiên, hắn ta nói: Cường đậu, tôi rớt. Tôi lấy làm lạ, không biết mình có phạm quy không? Mình làm bài tự tin lắm mà. Buồn vì đời học sinh học tài thi phận. Cuối cùng, hắn ta mới nói: “Thôi đi đãi đi, mày đậu Bình Thứ”. Thế là phải đãi bọn chúng một chầu phở bò tại rạp Tân Quang.
Niên khóa 68-69, tôi học terminale cùng với lớp Nguyễn Long Định (61) và lớp Đào Đức Kim (62) tại Đà Lạt. Cha Lê Văn Lập hết làm viện trưởng, cha Lê Văn Lý lên ngôi. Thế là hết được xe buýt của viện đưa đón. Đức cha Thuận cho anh em mỗi người một chiếc xe đạp để đi học. Lớp tôi là lớp cuối nên chúng tôi hội ý hai người một chiếc và lấy tiền ngài cho chi dùng lặt vặt. Tôi và Cường một chiếc, Phước và Trinh một chiếc, mấy anh em khác mỗi người một chiếc từ nhà đem lên hoặc tự mua. Các lớp khác cũng vậy.

Hè 69, sau khi chúng tôi đậu Bac, kết thúc cuộc đời tiểu chủng sinh, ngài lên Đà Lạt trực tiếp gặp gỡ từng người và hỏi xem có muốn tiếp tục tu học đạo hay xuống núi hành đạo. Lớp tôi có hai bạn đi học tại Giáo Hoàng Học Viện, năm người ra đại chủng viện Xuân Bích Huế, ba người khác quyết định xuống núi.

Tháng 3/75, sau bữa tiệc mừng Tân giám mục Đà Lạt Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, tôi và Đoàn Văn Liệu lợi dụng một vài giây phút ngắn ngủi đến gặp Đức cha Thuận để lĩnh ý. Ngài đã nói một cách nghiêm chỉnh: “Mất hết tất cả rồi, nếu còn đến Long Khánh, đó là một phép lạ. Các con cứ về Huế sắp xếp theo quyết định của Đức tổng và Hội đồng giáo sư rồi cố gắng về giáo phận, cha sẽ tính sau." Tôi đáp máy bay một mình về Huế trước cha bề trên và phái đoàn đại diện đại chủng viện sau khi lĩnh ý các ngài về quyết định cuối cùng: việc giải tán đại chủng viện, chờ Đức tổng và Ban giám đốc về Huế vào ngày mai. Nhưng vì tình hình quá nghiêm trọng và cấp bách, Hội đồng giáo sư đã quyết định cho các thầy di tản về Đà Nẵng vào sáng hôm sau, trước khi Đức tổng và Ban giám đốc trở về trong ngày hôm đó. Phương tiện tự túc, sau đó tìm cách trở về giáo phận của mình vì sợ không kịp.

Về đến Nha Trang, làn sóng di tản mỗi ngày mỗi gia tăng, anh em lại bắt tay vào công tác tiếp cư trong các trại di tản. Đêm 1/4 Nha Trang di tản, ngài phong chức một số anh em và sai đến những giáo xứ bị bỏ ngõ. Tôi và Nhị về đến Hộ Diêm vào chiều hôm đó. Sau ngày 16/4, Phan Rang bị chiếm đóng, được tin ngài triệu tập, chúng tôi lại ra Nha Trang và được ngài bảo qua ở với cha Nguyễn Thạch Ngọc, chuẩn bị cho việc lập đại chủng viện Sao Biển, trong khi chờ cha Nho và cha Phong từ Roma đã trở về, nhưng đang còn bị kẹt nằm ở Sài Gòn. Sau 30/4, đường sá thông thương, các cha đã về tiếp thu đại chủng viện và tiếp tục giảng dạy cho các lớp thần học cuối cùng. Lớp triết chỉ học mỗi tuần một lần vào ngày chủ nhật.

Ngài được triệu về làm Giám mục phó Sài Gòn. Tôi nghe được những tin xấu khi ngài nhận chức mới. Tuy nhiên ngài vẫn gởi về cho chúng tôi năm bộ sách lễ (rất hiếm lúc bấy giờ) cho năm anh em lớp lớn chúng tôi theo thơ chúng tôi đã xin. Ngày 24.1.1976, tôi lên thăm ngài tại Cây Vông, ngài có hỏi: “Đức cha sai con đi đâu?” Tôi trả lời nơi tôi sắp đến và ngài yên lặng năm phút. Cuối cùng ngài đưa cho tôi một tháng lễ và nói: “Thôi cứ lên sống ở đó, nếu có chuyện gì thì chạy xuống bà bề trên ở cách đó 15 km”. Rồi ngài cầu chúc cho tôi hăng say chu toàn bổn phận. Đó là lần cuối cùng tôi gặp ngài. Những năm tháng sau đó, tôi chỉ biết tin ngài qua lời kể của anh em và những người bạn đã gặp ngài trên xe lửa hoặc ngoài Hà Nội.

Có một điều đáng ngạc nhiên, đêm cuối cùng trước khi quyết định ra đi vào năm 1983, không biết ai đã chuyển đến cho tôi một tấm thiệp hình của Đức giáo hoàng Jean Paul II với nội dung như sau: “Cháu H. thân mến, hãy cố gắng chịu đựng” và ký tên đúng bút pháp của ngài. Nhưng chuyện đã quyết định, tôi đã hủy đi tấm thiệp cùng với một số giấy tờ của tôi. Dù sao tôi vẫn rất ngạc nhiên và lấy làm lạ về chuyện này, vì ngài đang ở cách xa tôi trên ngàn cây số và cuộc sống của ngài không mấy được tự do.

Được tin ngài trở về, nhưng tôi không có dịp gặp lại. Có một lần đi Nha Trang, Trần Ngọc Hoa (59) kể lại với tôi rằng khi anh ta đề cập đến tình trạng của tôi, ngài đã hỏi: “Chưa có giải pháp nào sao?” Sau đó tôi nghe tin ngài được phép xuất ngoại đi Roma để chữa bệnh và ở luôn bên đó. Ngài được Đức giáo hoàng bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban công lý hòa bình thế giới… Tôi có nghe Nguyễn Quang Vinh (61) kể đã có dịp đón ngài và cùng ăn tối với ngài tại Mỹ. Trong dịp này Vinh đã nối điện thoại để Hoàng Ngọc Anh (Huế) nói chuyện với ngài. Rồi ngài được lãnh chức Hồng y...

6 giờ 10 ngày 17.9.2002, chuông điện thọai reo. Đang còn ngái ngủ trên giường, tôi bật dậy chạy lên phòng khách cầm ống nghe. “Vô cùng đau đớn báo tin cho ông H. …” “Cái gì? Ai?” “...đau đớn báo tin cho ông, Đức hồng y Phanxicô Xaviê đã từ trần lúc 18g30 ngày 16.9.2002 tại Roma…” Thật bất ngờ, mặc dù tôi đã nghe biết tin ngài nằm bệnh lâu ngày tại Roma và được tận tình chữa trị tại Mỹ… Nhưng rồi cuối cùng ngài cũng đã được Chúa đưa về.
Nghe kể đám tang ngài long trọng nhất từ xưa đến nay tại Roma, và cảm động khi nghe Đức cha Nho trả lời khi được phỏng vấn về mối liên hệ mật thiết giữa hai người. Tôi chưa được coi băng video, nhưng dù sao cũng có thể mường tượng ra được.

Đó là những kỷ niệm mà tôi đã có với ngài. Ai ai trong địa phận Nha Trang cũng đều có hoặc ít hoặc nhiều ký ức đối với một vị cha chung đáng kính, một vị bề trên luôn bao dung và thông cảm với tất cả mọi người. Tôi viết ra những giòng chữ này để thắp lên một nén hương lòng tưởng niệm linh hồn Phanxicô Xaviê và để nói lên lòng cảm mến, biết ơn sâu xa của tôi đối với những tâm tình mà ngài đã dành riêng cho bản thân tôi và có thể cho tất cả những ai đã liên hệ mật thiết với ngài. Nguyện xin Chúa trả công bội hậu cho linh hồn Phanxicô Xaviê. Requiescat in pace.

Bà Rịa, mùa xuân Năm Thánh Truyền Giáo
Hoàng Châu