MAIN MENU
VỀ TRƯỜNG LỚP
- Những bước hình thành TCV Sao Biển
- TCV Sao Biển 1961-1967
- ĐCV Sao Biển 1975-1979
- Tiểu Chủng Viện Sao Biển
- Vài nét đặc biệt về TCVSB
- Chủng Viện Nha Trang tại Ðà Lạt
- Mùi Sao Biển
- Một ngày tào lao với Sao Biển
- Nhớ chuyện chơi
- Chúa Chiên Lành năm 2003
- Một thời Sao Biển đã nửa thế kỷ
- Chín nhớ
- Ngược miền ký ức khó nguôi
- Nhớ hai năm cuối ở Sao Biển
- Trang sách
- Thôi rồi trường xưa!
- Thương về Hòa Yên nhớ Sao Biển
- Những đóm lửa Sao Biển
- Chuyện lạ Sao Biển
- Dấu kỷ niệm
- Về thăm trường cũ
- Khởi điểm cho Truyền thống SB
- Âm thanh mái trường
- Leng keng tiếng chuông
- Sân banh Chủng viện
- Hoài niệm
- Giấc mơ Kim Khánh
- Giấc mơ chưa trọn
- Con đường tựu trường
- Ước mong ngày về
Nhớ hai năm cuối ở Sao Biển
Lê Quang Hương 66


Thời gian thấm thoát qua mau, mới đó mà lớp 66 chúng tôi đã thành chú lớn (gồm hai lớp quatrième và troisième).

Đầu năm lớp 4e, chúng tôi được chuyển sang dãy nhà sát biển dành cho chú lớn. Phòng ngủ dài, rộng thênh thang trên lầu. Phòng đầu tiên trên lầu, sát biển và cửa ra vào là phòng cha Hirigoyen. Còn đầu dãy phía sân đá banh là phòng các cha Gantier, Nédelec. Tầng trệt đầu dãy nhà sát biển là phòng cha Gervier. Cha Gervier dạy toán. Thỉnh thoảng chúng tôi được vào phòng ngài, thấy đúng là phòng của một “nhà toán học” với những mô hình khối nhiều góc cạnh… Sách của ngài đầy dẫy trên các kệ, trên bàn làm tôi tự hỏi sao ngài có thể đọc và nghiên cứu cho hết được?! Có lần mấy đứa chúng tôi vào phòng ngài, phát hiện có mấy con tôm hùm đã nấu chín, ngài vui vẻ nói “mangez! mangez!” Thế là chúng tôi chén sạch và khen ngon rối rít. Ngài cười hiền lành và có vẻ hài lòng lắm.

Riêng phòng cha Lagrange ở đầu dãy nhà chú trung thì hiếm khi chúng tôi được vào, có lẽ vì ngài không thích ồn ào. Cha Lagrange dạy chúng tôi hai môn histoire và géographie. Hai môn này hơi buồn ngủ nên nhiều khi ngài cũng pha trò cho chúng tôi đỡ chán.

Cha Gantier thì đưa chúng tôi vào thế giới các nốt nhạc. Ngài hướng dẫn chúng tôi về nhạc lý và xướng âm (solfège). Nhờ vậy chúng tôi mới có dịp luyện giọng cho đúng âm độ, thả sức hét để lên cho cao và xuống cho đúng giọng trầm. Thật là những buổi hoà âm với hàng mấy chục giọng: the thé có, thanh thanh có, ồm ồm có, vịt đực có… và có không ít “bè”, vì có những anh em không tài nào hát được cho đúng giọng cả. Cung giọng họ cứ ngang như cua, tra tấn lỗ tai của những người khác. Thỉnh thoảng cha Gantier cho chúng tôi nghe những symphonie và giải thích cho biết những phần nào diễn tả những gì: mưa, nắng, gió, các mùa xuân hạ thu đông... Chúng tôi nghe và hiểu mang máng vậy thôi, nhưng hoà âm thì thật là tuyệt vời. Chính nhờ những giờ lên gân cổ như vậy mà chúng tôi sau này có đủ khả năng tập hát cho ca đoàn, giúp các giáo dân ngợi ca Chúa, Mẹ.

Hồi đó, Sao Biển được trang bị mấy cái đàn harmonium điện để chúng tôi tập chơi những bản nhạc của các nhạc sĩ nổi tiếng như Bach, Beethoven, Haydn… Tôi cũng biết được một số hợp âm trưởng, thứ, nên rán luyện để có thể đệm đàn trong nhà nguyện. Nhà nguyện có một đàn harmonium đạp với một số nút giọng nghe khá hay. Mỗi lần cha Ban ngồi vào đàn, ngón đàn tài hoa của ngài giúp chúng tôi vừa hát vừa lắng nghe chăm chú. Thường thì chỉ có các anh lớp lớn như anh Thực mới được ưu tiên đệm đàn. Tôi không nhớ từ lúc nào các anh ấy lại bảo tôi đệm. Mới đầu hơi ngại, nhưng dần dà được khuyến khích, tôi mạnh dạn biểu diễn ngón đàn càng ngày càng điêu luyện hơn trong các giờ chầu.

Mỗi chiều thứ năm, chủ nhật có giờ chầu Mình Thánh Chúa, mấy dãy bàn quì cuối nhà nguyện được dành riêng cho các dì và những người giúp việc chủng viện và gia đình của họ. Trong số đó có một cô bé con ông giúp việc, nhà ở cuối sân bóng, tên Chi, đang là nữ sinh lớp 8 thường xuất hiện trong tà áo trắng vào những giờ chầu cũng như vào các thánh lễ chủ nhật. Lúc đó, để phụ giúp các dì và những người giúp việc, chúng tôi được phân công rửa chén ban tối. Mỗi phiên gồm 5, 6 người phụ giúp suốt một tuần. Cô bé ấy lại thường qua phụ ông bố và dĩ nhiên phụ cả chúng tôi nữa. Hình như cô bé có để ý đến tôi, nên phiên rửa chén là dịp tốt nhất để hai đứa chúng tôi trò chuyện. Tôi không biết tình cảm của cô bé đối với tôi như thế nào. Nhưng có một lần, cầm cái ca đựng nước lên, thấy nặng nặng, tưởng là ai đã uống còn dư, tôi hắt đi thì bỗng nghe có tiếng tiếng kêu lọc cọc lộp cộp trên mặt đất. Té ra cô bé đã bỏ sẵn trong ca nước cho tôi mấy trái ổi mà tôi lại vô tình hắt đổ đi. Tôi vội cám ơn lòng tốt của cô bé rồi vụt chạy ra sân chơi với các bạn. Cô bé thoáng buồn nhìn theo rồi quay gót.

Năm học troisième cũng mang lại cho tôi một kỷ niệm khó quên. Thường cuối mỗi tam cá nguyệt, chúng tôi được về nhà nghỉ hai tuần. Do nhà xa, nên tôi ngỏ ý về nhà Minh (Cời) nghỉ và được ba mẹ Minh đồng ý. Ba Minh lúc đó là giáo viên, còn mẹ buôn bán tạp hoá tại nhà. Ngày đầu tiên đến nhà Minh ở Xóm Bóng, gần Tháp Bà, tôi được đón tiếp thân tình như con cháu. Buổi trưa, cô em gái kế Minh là Diệp đi học về, có vẻ mắc cỡ khi thấy có các bạn của anh mình ở trong nhà. Diệp học lớp 10, khá xinh với tà áo nữ sinh duyên dáng của tuổi trăng rằm. Bầu không khí trong gia đình Minh rất ấm cúng, làm chúng tôi thấy tự nhiên hơn trong sinh hoạt. Một hôm có bạn Diệp đến rủ Diệp đi học, cô bé người Huế nầy cũng có nét thanh thanh của tuổi mới lớn làm bọn con trai tụi tôi phải bâng khuâng, ngẩn ngơ rồi ngơ ngẩn như muốn quên hết đường tu. “Đức đi nghe!” Giọng nói e ấp của con gái Huế sao mà ngọt lịm lạ thường! Nghe xong chẳng ai thèm nói, mà chỉ nhìn nhau thầm hiểu chuyện người mới lớn. Thỉnh thoảng Minh dẫn chúng tôi đi chơi bida, mua kem, bánh kẹo quanh các nhà lối xóm, nên ai cũng biết và trở nên thân tình. Thấm thoát hai tuần nghỉ tam cá nguyệt trôi qua, chúng tôi lại xách vali vào Sao Biển tiếp tục năm học.

Mùa hè năm 1972, lớp troisième chúng tôi chuẩn bị thi trung học Pháp (BEPC). Cha giám đốc cho biết chúng tôi phải ở lại trường ôn thi trong vòng một tháng. Cả trường về nghỉ hè, còn hơn 20 mạng lớp chúng tôi ở lại ôn tập. Thi BEPC đòi hỏi phải đạt điểm cao mấy môn như toán, Pháp văn, sử địa. Chúng tôi tự học là chính, không có cha giáo nào dạy. Thế là mỗi người cầm vài cuốn sách rồi kiếm một góc nào đó trong chủng viện rộng lớn thênh thang để luyện thi. Nhiều bạn chọn một góc phòng học hay một gốc dừa ngoài sân, riêng tôi xách ghế ra hành lang nhà nguyện ngồi tụng. Ngồi ở đây, gió biển thổi vào mát rượi, lại còn được nghe tiếng sóng biển rì rầm, tiếng phi lao vi vu, tiếng lá dừa rì rào… Bầu không khí thật yên tĩnh thích hợp cho việc học tập.
Đến ngày thi, chúng tôi lên xe lam tới trường Collège Francais để thi. Đó là một ngôi trường Tây cổ kính nằm trên đường Nguyễn Tri Phương, đối diện với trường trung học Lasan Bá Ninh. Chúng tôi thi cùng các bạn học sinh thuộc trường Tây này. Phần đông họ là con cái nhà giàu, nhìn cách ăn mặc hợp thời thì biết ngay! Lúc điểm danh, tôi có nghe tên Công Tằng Tôn Nữ… chà, giòng giống hoàng tộc đây! Kết quả cuộc thi BEPC cả lớp chúng tôi không ai bị rớt.

Trong năm học, chúng tôi đã tự mua hoặc mượn sách giáo khoa lớp 11 chương trình Việt để luyện thi tú tài 1. Trước đây, việc thi tú tài Việt bị cấm, nhưng sau này ban giám đốc nới lỏng và cho phép. Có thể các lớp đàn anh đã đấu tranh nhiều để lệnh cấm được bãi bỏ. Theo tôi nghĩ, lúc đó là thời chiến, anh em nào bị đuổi khỏi chủng viện mà không có một tờ giấy lận lưng, ắt hẳn phải đi binh nhì. Quả là một sự thiệt thòi. Nhưng nếu có tú tài 1, phải đi lính thì cũng kiếm được lon chuẩn uý. Đỡ khổ! Thế là hè năm 1972, đa số anh em trong lớp tôi đều dự thi và đã đậu tú tài 1.

Mùa hè năm 1972 cũng là “mùa hè đỏ lửa”. Lúc chúng tôi đang ôn thi BEPC thì chiến tranh nổ ra ác liệt khắp miền Nam Việt Nam, nhất là miền Trung. Nhiều tin đồn nổ ra, nhất là tin sắp thi hành Hiệp định Paris, cắt đất miền Trung từ Quảng trị đến Qui nhơn (?) để thành vùng trung lập. Thế là dân chúng đua nhau chạy vào phía Nam. Chúng tôi chứng kiến từng đoàn người lũ lượt dắt nhau vào Nha Trang. Các trường học được người tỵ nạn chiếm đóng làm nơi tạm trú. Đặc biệt có một gia đình dùng xe “balua” chở cả nhà, vật dụng và cả chục bao xoài… vào chủng viện xin tá túc. Chúng tôi lân la hỏi chuyện và được biết chiến sự ở Qui Nhơn và các vùng ngoài đó khá ác liệt. Tránh chiến tranh, họ hái cả xoài xanh mang theo ăn. Gia đình đó có bốn người con, ba gái một trai. Hai cô gái lớn khoảng 18, 19 tuổi, một cô khoảng 15 và cậu con trai út mới 10 tuổi trông khá ngộ nghĩnh. Lúc này vùng Nha Trang tương đối yên lành. Chúng tôi làm quen với họ, rồi hỏi han trò chuyện. Giọng nói người Qui Nhơn Bình Định có âm sắc ngồ ngộ, dấu hỏi có khuynh hướng chuyển thành dấu ngã khi âm được phát ra. Có một tối gia đình người tỵ nạn mời chúng tôi thưởng thức xoài chấm mắm đường, vừa ăn vừa trò chuyện thời thế, chuyện vui cho tới thật khuya mới đi ngủ.

Khi chiến sự mùa hè 72 lắng dịu, bà con tỵ nạn lục tục trở về quê quán. Số gia đình vào chủng viện tá túc cũng ra về làm chủng viện càng thêm trống vắng. Cả chúng tôi sau kỳ thi cũng từ giã các cha, các thầy và các dì về nghỉ hè. Đây cũng là kỳ hè cuối cùng ở Sao Biển của lớp chúng tôi với bao kỷ niệm không thể nào quên.

Lê Quang Hương 66