MAIN MENU
VỀ ÂN SƯ & BẠN BÈ
- Các ân sư trong những hộc ký ức
- Cảm nghĩ về các ân sư
- Cố Hồng thần tượng
- Nhớ Cố Hồng
- Gặp gỡ các Ân Sư MEP
- Lettre de mon jardin
- Bữa cơm Yêu Thương & Tri Ân
- Cha Alexis Nguyễn Thạch Ngọc
- Sư phụ âm nhạc
- Kể tiếp chuyện cha Láng
- Vị Thầy giám thị khả kính
- Đời Sao Biển - năm I
- Pourquoi ai-je quitté mon sacerdoce?
- Đường tôi đến Sao Biển
- Tôi làm chú nhỏ
- Anh ấy, bạn tôi
- Tình đầu chưa nguôi
- Hắn và tôi
- Cái va-li
- Tình ngay ý gian
- Những mẫu chuyện không quên
- Thằng Lẩu dự hội Bàn Ðào
- Hai khoảnh khắc không biết nói
- Một thời chú Tiểu
- Cu Đen
- Dại dột
- Thành Dzảnh
- Nhớ Phú Già
- “Le Nhaque”
- Hội ngộ Dana Point
- Kiếp “mặt sắt” ở xứ người
- Chỉ là giấc mơ
- Một thoáng bâng khuâng
- Sao Biển hỉ nộ ái ố
- Một kỷ niệm không đẹp
- Tổ trác thằng từ Đinh
- Chuyến đi xa đầu đời
- Những mảnh đời
- Một cõi quay về
- Những chuyện tình ở SB
- Cái “nong mạch”
- Kỷ niệm “anhphiếcmiê”
- Dấu kỷ niệm khó quên
- Một chút gì để nhớ
- Bệnh truyền nhiễm
- Một chuyến Mẽo du
- Đi thi
- CSB Biên Hoà tiễn cá
- Tâm tình sau hội ngộ
- Ét Bê Sờ Tai (SB style)
- Nicknames yêu dấu
- Mùa Chay nhớ bạn cũ
- Tản mạn về quá khứ vùng trời Sao Biển
- Cọp 72
- Một thời để nhớ
- Ký sự chuyến dự lễ mở tay
- Thư từ Nam bán cầu
- Nhớ mãi không quên
- Tản mạn về SB của tôi
- Trộm thuốc và hái dừa non
- Nhớ
- Ét Bê 72 phiêu lưu ký
- Dạo núi
- Thế mới là dân SB chứ!
- Sao Biển 66 hải ngoại
- Vĩnh biệt “thánh” Thành
- SB 67: số liệu và sự kiện
- Người đương thời
- Đi dạo
- Bắt trộm
- SB săn bắt trộm
- Thả trộm
- Kẹo và chú Sao Biển
- "Mình nhớ anh em quá!"
- Một chuyến đi
- Hoàng hôn trên biển
- Giáp mặt
- Giai điệu tri âm
- Miếng cơm cháy
- Những anh hùng sân banh SB
Cố Hồng thần tượng
Nguyễn Thành Thống 60


Cố Hồng (Clause), vị thầy thần tượng của tôi.
Tôi cho rằng sáu năm ở Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang (1960-1966) là những năm quyết định sự hình thành những nét cơ bản định hướng và sở thích của tôi. Đó cũng là những năm tôi học được phương pháp làm việc: tự học và giờ nào việc nấy. Chính nhờ phương pháp này mà tôi đã có được những thành đạt hiện nay.
Cuốn sách đầu tiên tôi đã đọc say mê ngày đêm là cuốn Lỗ Bình Sơn trên hoang đảo, một bản dịch tiếng Việt cuốn Robinson Crusoe của Daniel Defoe. Sau đó là cuốn Vô gia đình (Sans Famille của Hector Malot). Và rồi đến Tâm hồn cao thượng (Les Grands Coeurs-Cuore- của Edmondo de Amicis). Chuyện trong sách vở làm tôi mơ mộng, hun đúc tình cảm và ý chí của tôi. Tôi vốn là người mơ mộng. Không sao! Ông tổ chế tạo xe Honda là tổ sư mơ mộng. The Power of Dreams.
Tôi muốn nói ở đây là người đã định hướng cho sự mơ mộng của tôi là Cố Hồng. Thật vậy. Xuất thân là một đứa bé nhà quê của làng Cà Đú khỉ ho cò gáy, tôi lại mê thiên văn học và cổ ngữ! Tôi nghe mấy chú lớn đồn rằng Cố Hồng biết tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp. Đó là chưa nói, ngoài tiếng Pháp, cố còn biết tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha. Có những đêm tôi thấy cố nhìn trời ngắm sao. Chắc cố phải giỏi thiên văn hơn Cố Lành (Gervier). Cố Lành chỉ nói suông chứ có ngắm sao bao giờ đâu. Chính vì phục Cố Hồng mà từ khi còn rất nhỏ tôi đã có ý định học thiên văn và những cổ ngữ của vùng Trung Đông, vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia). Và nhất là phải học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp để đọc Kinh Thánh trong nguyên bản. Rõ là mơ mộng! Chuyện này về sau Cố Lành đã khẳng định: "Tu es un rêveur." Cố Lành luôn nói với tôi như vậy mỗi khi tôi đến mượn cố cuốn Astronomie to đùng để xem (lúc ấy là vào năm lớp cinquième). Mãi mãi về sau tôi mua được cuốn Astronomie này. Khi có được cuốn sách ấy thì những kiến thức về thiên văn học trong đó cũng đã lỗi thời rồi, nhưng tôi vẫn luôn giữ nó để làm kỷ niệm. Vì muốn giống Cố Hồng nên đêm nào tôi cũng nhìn sao. Vì không có ai chỉ dẫn nên tôi phải tự mày mò tìm lấy. Tôi tìm các chòm sao bằng cái bản đồ nhỏ xíu in trong cuốn Petit Larousse. Ngày nay tôi vẫn tự hào khoe với mọi người rằng mình có thể xác định được các sao và các chòm sao trên trời bằng mắt thường.
Năm 1981, trong bữa tiệc đám hỏi của tôi, chú vợ tôi là bác sĩ Nguyễn văn Thọ, lúc ấy đang nghiên cứu về thiên văn học Trung Hoa, đã hỏi đố tôi: trong chòm sao Orion, ngôi sao nào nhìn bằng mắt thường màu đỏ, ngôi nào màu xanh? Tôi đã trả lời ngay: sao Rigel đáng lý ra phải màu đỏ, vì chữ Rigel gần với chữ rouge, nhưng lại màu xanh; còn sao Bételgeuse lại là màu đỏ. Cũng vì thích thiên văn như thế nên bắt đầu từ năm lớp seconde đến hết năm lớp terminale tôi đã học rất giỏi môn physique. Tôi có ý định trở thành nhà thiên văn học! Vì thế, năm 1969, tôi đã đến xin Đức cha Thuận về, không đi tu nữa. Đức cha đã thuyết phục được tôi, từ chuyện xin ra tôi đồng ý đi probation! Thế mới biết tài thuyết phục của Đức cha Thuận. Nhưng sau đó ngài lại đổi ý, cho tôi ra, và ngài bắt tôi phải ở trong cư xá Đắc Lộ của các cha Dòng Tên. Chính vì quyết định này của Đức cha mà tôi vẫn thường nại cớ việc tôi ra là theo quyết định của bề trên.
Khi vào Sài Gòn học, tôi lại không học vật lý mà học tiếng Anh và tiếng Việt! Trời trớ trêu như vậy đó. Thế mới biết mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Thật ra tôi tin vào sự Quan Phòng hơn. Đâu ai ngờ về sau tôi lại sống bằng nghề dịch thuật; chủ yếu là dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Và tiếng Anh là chìa khóa để tôi mở tung mọi lãnh vực. Trong tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số 506, ra ngày 1.9.2004, tôi có nói với phóng viên: "…chỉ cần biết tiếng Anh là có thể học được nhiều ngoại ngữ kể cả cổ ngữ Sumer!" Thế là từ bỏ mộng trở thành nhà thiên văn học, nhưng tôi vẫn còn thích thiên văn. Hiện nay ban đêm tôi vẫn còn ngắm sao trên sân thượng và tôi thường nói đùa với bạn bè là nhà thiên văn học Trịnh Xuân Thuận chính là hoá thân của tôi. Nhưng mơ ước học những cổ ngữ vùng Trung Đông thì vẫn còn và từ từ tôi đã thực hiện được.
Rất tiếc tôi đã không được học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp với cố Hồng, vì ở tiểu chủng viện không có dạy hai cổ ngữ này. Trong các đại chủng viện ở Việt Nam hiện nay cũng không có dạy. Thật đáng tiếc! Đã nhiều lần tôi đề nghị với Cha giám học đại chủng viện Sao Biển Nha Trang để tôi dạy không lấy tiền hai cổ ngữ này, nhưng không được chấp thuận. Cũng phải thôi. Đâu ai biết trình độ của tôi tới đâu, hơn nữa các thầy bao giờ cũng cho rằng mình học quá tải rồi. Như đã nói tôi không được học những linguae sacrae này với Cố Hồng, nhưng tôi đã chọn cố làm cha linh hướng và được học tiếng Anh và tiếng Latinh với cố. Tôi đã học hai môn này rất giỏi và tôi còn nhớ như in chữ viết nhỏ nhắn và đều đặn của cố viết trên vở của tôi. Thật ra tôi chưa từng nghe Cố Hồng đề cập đến hai cổ ngữ này bao giờ. Trên kệ sách của cố tôi cũng chẳng thấy cuốn sách tiếng Do Thái tiếng Hi Lạp nào. Tại sao tôi biết? Chuyện là thế này: cố thường ngồi giải tội ở bên trong, phía sau màn, thế là tôi tranh thủ mò tìm sách mỗi khi tôi đi xưng tội! Nói ra điều này tôi không có ý nghi ngờ vốn liếng tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp của cố. Các chú lớn đã nói thế, làm sao sai được? Cố savant như thế phải biết chứ. Tôi cứ ôm ấp mãi ước muốn học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp để đọc Kinh Thánh trong nguyên bản nhưng không thực hiện được, vì lúc ấy theo như tôi biết, chỉ ở Giáo Hoàng Học Viện Đà lạt mới có sách tiếng Do Thái và Hi Lạp. Nhưng ở đó cũng không dạy chính khóa hai cổ ngữ đó.
Mãi cho đến năm 1972, sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn ra trường đi dạy tôi mới thực hiện được mong ước. Nhưng lần này tôi lại học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp với một Mục sư Tin lành người Mỹ, tiến sĩ Orrel Steinkamp, giáo sư Thánh Kinh Thần Học Viện Nha trang. Cách thức học như sau: hằng tuần tôi đến nhà thầy hai lần để làm bài tập và xem thầy sửa bài đồng thời đưa ra những thắc mắc; phần ngữ pháp thì tôi tự học trước ở nhà. Giáo sư Orrel Steinkamp là người rất khiêm tốn và cẩn thận. Mỗi khi tôi hỏi những điều cắc cớ ông không trả lời được ngay, bao giờ ông cũng bảo hãy để ông tra cứu lại lần sau sẽ trả lời chính xác. Tôi học như vậy được ba năm thì giáo sư phải về nước vào năm 1975. Lúc ấy tôi đã bắt đầu đọc được lai rai Kinh Thánh bằng nguyên bản rồi. Từ đó đến nay tôi cứ phải ôn đi ôn lại hoài để khỏi quên. Tôi đã tìm ai đó để dạy nhưng chả ma nào chịu học cả. Người ta bảo khó và không thực tế!
Khoảng năm 1995, tôi biết muốn dịch Cựu ước cho chính xác phải biết tiếng Ugaritic, nên tôi đã tìm sách và tự học cổ ngữ này. Tìm là được. Chuyện khá buồn cười là một cha giáo sư ở trường Kinh Thánh Giêrusalem đã thắc mắc ở Việt Nam mà có ai lại cần đến những Ugaritic Textbook như vậy. Chưa hết. Năm 2003 tôi đã nhờ một học trò cũ hiện làm ở cơ quan NASA tìm mua những sách dạy tiếng Ai Cập cổ đại để tự học chữ viết trong các kim tự tháp! Rõ là mơ mộng! Hiện tôi cũng đang nhờ tìm mua những sách dạy tiếng Sumer. Sở dĩ tôi nói tất cả những chuyện này là vì hai lý do: thứ nhất là để bạn bè thân tín gần xa biết hobby của tôi mà giúp đỡ; thứ hai là để cho mọi người thấy hạt giống mà Cố Hồng gieo đã đâm rễ bàng tràn lan như thế nào.
Tuy tôi chỉ học với Cố Hồng hai năm lớp cinquième và quatrième, nhưng người đã tạo ấn tượng rất mạnh trong đầu óc của tôi và chính người đã thực sự định hướng cho những ước mơ của tôi. Có người sẽ hỏi tại sao Cố Hồng không định hướng ước mơ làm linh mục. Đó là ý định của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nói ra ý định của Ngài thông qua quyết định của bề trên là Đức hồng y Phanxicô. Ngài muốn tôi là một giáo dân; nói đúng hơn là một trí thức công giáo. Tôi luôn ý thức điều này. Hiện tại tôi sống bằng sách; nói cụ thể là đẻ ra sách. Và sách là một phương tiện phục vụ Giáo Hội rất tốt. Người ta thường nói "mang nặng đẻ đau". Đẻ ra sách cũng đau lắm; không phải dễ ăn đâu. Vì thế tôi cũng cần thư giản. Chính những cổ ngữ mà tôi nói ở trên là phần thư giản của tôi. Việc học cổ ngữ tạo cho tôi sự nhiệt tình hăng say. Điều này quan trọng lắm.
Đúng như nhà Ai cập học J. F. Champollion đã nói: "L'enthousiasme seul est la vraie vie".
Thế mới biết Cố Hồng quan trọng biết chừng nào!

Nguyễn Thành Thống 60