MAIN MENU
VỀ TRƯỜNG LỚP
- Những bước hình thành TCV Sao Biển
- TCV Sao Biển 1961-1967
- ĐCV Sao Biển 1975-1979
- Tiểu Chủng Viện Sao Biển
- Vài nét đặc biệt về TCVSB
- Chủng Viện Nha Trang tại Ðà Lạt
- Mùi Sao Biển
- Một ngày tào lao với Sao Biển
- Nhớ chuyện chơi
- Chúa Chiên Lành năm 2003
- Một thời Sao Biển đã nửa thế kỷ
- Chín nhớ
- Ngược miền ký ức khó nguôi
- Nhớ hai năm cuối ở Sao Biển
- Trang sách
- Thôi rồi trường xưa!
- Thương về Hòa Yên nhớ Sao Biển
- Những đóm lửa Sao Biển
- Chuyện lạ Sao Biển
- Dấu kỷ niệm
- Về thăm trường cũ
- Khởi điểm cho Truyền thống SB
- Âm thanh mái trường
- Leng keng tiếng chuông
- Sân banh Chủng viện
- Hoài niệm
- Giấc mơ Kim Khánh
- Giấc mơ chưa trọn
- Con đường tựu trường
- Ước mong ngày về
Dấu kỷ niệm
Đức Khang 63


1. Tiếng sóng, tiếng chim sẻ, tiếng súng và tiếng chuông

Tất cả những “điều còn nhớ được ghi lại” trên đây, tôi cố gắng chỉ ghi lại những điều đã xảy ra năm tôi học lớp Huitième, 1963. Ngoại trừ những điều ghi lại về các vị Giáo sư.
Mà kể cũng lạ. Tôi nhớ kỹ những điều xảy ra thời năm Huitième hơn tất cả những năm khác. Không hiểu tại sao. Cả một khoảng thời gian từ Septième đến Troisième không để lại trong đầu tôi một kỷ niệm nào khó quên. Thú thật chẳng biết viết gì về khoảng thời gian này.
Dần dà, một tuần rồi hai tuần, ba tuần, ngày tháng dần dà trôi. Chúng tôi làm quen dần với không khí tĩnh mịch của Chủng viện. Đời sống xã hội bên ngoài chỉ vang vọng vào Chủng Viện qua những âm thanh ban đầu chúng tôi không để ý, nhưng dần dà ghi sâu vào tiềm thức. Cho đến hôm nay tôi vẫn còn nghe ra được.
Ban đầu là tiếng sóng. Những bạn nào mà nhà không ở gần biển, chắc chắn những ngày đầu tiên rất khó ngủ vì tiếng sóng. Ì ầm vang vọng cả ngày lẫn đêm. Đã nhớ nhà mà lại phải trằn trọc vì tiếng sóng, ban đêm nghe rõ hơn ban ngày, thì chắc chắn đã có nhiều anh rấm rức khóc thầm trong đêm lắm.
Được cái nhà tôi cũng ở gần biển, nên tiếng sóng nghe đã quen tai. Tuy không khó chịu nhưng tiếng sóng lại làm cho tôi nhớ nhà tợn. Nhà tôi với Chủng viện cách nhau không quá hai cây số, vì thế tôi lại lâm vào cảnh cùng nghe một tiếng sóng mà phải ở hai nơi.
Tiếng sóng nhắc tôi nhớ nhà nhiều hơn.

Không biết các bạn có để ý không. Thông thường mãi đến từ 11 giờ trưa trở đi, gió nồm mới bắt đầu thổi vào, càng ngày càng mạnh. Chính loại gió này mang cái mát và hơi nước biển vào đất liền. Đến khi tắt mặt trời thì gió dịu bớt và lặng dần. Cho đến nửa đêm về sáng mới có gió trong thổi ra. Ban đêm thường ít hay là không có sóng. Chỉ có ì oặp tiếng vập. Mặt biển lặng và loáng như một bát dầu. Chỉ đến tháng Mười ta trở đi, biển động thì sóng ngày đêm đập ì ầm.
Tiếng sóng đã theo chúng tôi lớn lên hằng ngày. Đến khi rời xa Chủng viện, trong mọi điều thiếu nhớ, chúng tôi thấy nhớ tiếng sóng vô cùng. Chung quanh Chủng viện trồng biết bao là dừa, âm thanh thứ hai quen thuộc với chúng tôi là tiếng chim sẻ ríu rít. Chim sẻ rất tinh khôn, mà lại nhát, nên thích đậu trên ngọn dừa. Trên đó chi chít những buồng hoa dừa, mỗi hoa nhỏ bằng đầu đũa, đầy những đám ong hút mật. Nên chúng ríu ra ríu rít kiếm ăn trên đó cả ngày. Nhiều hôm ồn ào như có cả một cái chợ trên ngọn cây. Những buổi trưa, vào giờ làm bài. Hay giờ ngủ trưa. Cả Chủng viện im lặng. Vắng vẻ. Lại đúng giờ đàn chim tìm chỗ mát trú nắng. Tha hồ cho lũ chim sẻ líu lo. Dần dà chúng tôi để ý đến tiếng chim sẻ. Nhất là những hôm buồn ngủ trưa mà không ngủ được. Đâm ra bực mình với tiếng chim.
Nhà ngủ chú Nhỏ còn một lý do khiến tiếng chim ồn ào hơn: Sau giờ cơm trưa và vào giờ Etude ban chiều, cả đàn chim sẻ bay vào nhà cơm kiếm những hạt cơm rơi... Khi thấy có ai đi ngang xuống nhà vệ sinh, đàn sẻ lại bay vụt lên huyên náo.
Có lẽ trong suốt cuộc chiến, Nha Trang là môt thành phố hoà bình nhất. Chỉ một sự kiện nhỏ năm Mậu Thân, còn ngoài ra, Chủng viện nghe tiếng súng quanh năm, nhưng không phải là tiếng súng trận, mà là tiếng súng tập. Từ lúc định cư ở Ba Làng năm 1957, tai tôi đã nghe quen tiếng súng tập Trường HSQ. Hầu như ngày nào, đêm cũng như ngày, tai tôi đều nghe tiếng súng. Mọi thứ súng, từ đại bác 82 ly, đến Mortier 61 ly, súng trường Garant, Carbin M1, M16, tiểu liên Thompson, Trung liên BAR, đại liên 50... cho đến các loại mìn: mìn hơi, mìn claymore, lựu đạn quả na, đến lựu đạn mini... Nghe quen đến độ dù tiếng nổ to, bất ngờ, và được vách núi vọng lại và phóng đại to thêm, thế mà tôi vẫn ngủ yên như không nghe.

Vào Chủng viện, hằng đêm tai vẫn nghe tiếng súng tập quen thuộc, lòng càng nhớ nhà thêm. Thỉnh thoảng giờ Etude mắt lơ đãng ngó sang dòng Kín, tầm mắt ngước cao thấy ngọn Hòn Khô thẫm màu phía xa. Nhiều lúc ứa nước mắt nhớ làng xóm.
Bây giờ ghi lại kỷ niệm này, chợt nhớ tới câu thơ mà nhiều thế hệ quân nhân đã quá quen, nói về hình dáng ngọn Hòn Khô và bức tượng Anh Lính Chiến trên đó:
“Anh đứng nghìn năm thao diễn nghỉ
Em nằm xoã tóc đợi chờ anh”


Âm thanh quen thuộc cuối cùng là tiếng chuông nhà thờ. Chủng viện ở vào một vị trí mà cùng một lúc có thể nghe được ba tiếng chuông nhà thờ khác nhau (sau này phải kể là bốn).
Xa nhất và nghe trước nhất là chuông nhà thờ Ba Làng. Ba Làng thường đánh chuông hiệu (chuông thứ nhất) vào lúc 4:30 sáng. Chuông nhà thờ xứ tôi nên tôi biết rõ. Chỉ có hai cái, một cái chuông nhỏ tông LA, và một cái chuông lớn hơn tông Do#. Quanh năm suốt tháng chỉ giật cái chuông nhỏ. Chỉ khi nào lễ trọng mới kéo cả hai chuông. Làm thành âm giai La trưởng vui vẻ hân hoan. Sau này cái dái chuông to bị mòn cuống, rụng mất. Từ đó chỉ còn cái chuông nhỏ gióng hiệu mà thôi.

Tiếp sau đó, thỉnh thoảng những hôm gió trong thổi mạnh, mới nghe nghe văng vẳng tiếng chuông của nhà thờ Thanh Hải. Năm 1963, Cha xứ Thanh Hải là Cha già Augustinô Phạm văn Nguyện. Nhà thờ Thanh Hải chưa xây mới. Cái tháp chuông nhỏ xíu, dựng lên do bốn cây gỗ tròn, và thấp ngang lầu hai của nhà xứ. Cha già Nguyện ngủ trên lầu này. Bên cạnh giường của ngài có cái bàn nhỏ để một cái... điếu bát và ngọn đèn Hoa kỳ lúc nào cùng leo lét. Không biết ĐVH có còn nhớ chi tiết này không. Mỗi lần ngài kéo một hơi là cả một trình tự nghiêm trang như một nghi thức. Kéo xong ngài lim dim mắt, nhẩn nha thả khói và... ho. Sau đó trăm lần như một, ngài dùng một cái chổi thợ cạo để chùi sạch cái điếu bát đã lên nước bóng nhẩy. Vì tháp chuông thấp, mà dừa Thanh Hải thì nhà nào cũng có và cao, cái chuông lại bé không lớn hơn chuông Chủng viện là bao nên thỉnh thoảng chúng tôi mới nghe.
Ngay trước khi chuông báo thức của Chủng viện gióng lên thì chúng tôi đã nghe chuông hiệu của Dòng Kín. Tiếng chuông nhà Dòng lanh lảnh và cao, vang xa lắm. Mùa nghỉ hè, mỗi sáng ngủ ở nhà, tôi vẫn nghe tiếng chuông Dòng Kín. Giờ giấc Dòng Kín thường trùng hợp với giờ giấc Chủng viện, nên thường có anh thức dậy với giờ chuông hiệu ban sáng của Dòng Kín trước khi chuông báo thức của Chủng viện gióng lên. Giữa ngọ chỉ có Dòng Kín giật chuông Nhật Một cùng với Chủng viện cách nhau một hai phút.
Sau này khi có nhà thờ THSQ với Cha Kim làm Tuyên úy, ngài cho máy phát thanh tiếng chuông thay vì giật chuông, nên hoạ hiếm lắm chúng tôi mới nghe được tiếng chuông phóng thanh này, chỉ một vài hôm khi có gíó bấc trong thổi ra.

Ghi khắc trong kỷ niệm đậm nét nhất là vào ban trưa, không gian im ắng. Ngoài sân nắng đã đứng bóng. Gió biển chưa vào. Bụng đã đói sau giờ làm bài ban trưa. Mắt lim dim vì ánh nắng hắt từ mặt biển vào. Buồn ngủ nữa. Chỉ ngồi chờ tiếng chuông Nhật Một dòng Kín gióng lên, là chúng tôi rào rào dọn dẹp sách vở vào ngăn. Tai vẫn còn nghe tiếng xe cart nhà bếp ông Hào hay ông Hiển đang dọn bàn đồ ăn, tiếng bánh xe lạch cạch lạch cạch làm tăng thêm cơn đói.
Những giây phút ấy và những âm thanh ấy chúng tôi không thể nào quên.

2. Nhà Nguyện

Sau giờ nguyện gẫm trong phòng Étude, chúng tôi đọc kinh Angelus rồi tuần tự xếp hàng vào Nhà Nguyện dâng Thánh lễ.
Nhà Nguyện còn lưu lại trong tôi nhiều ấn tượng. Lần đầu tiên vào Nhà Nguyện chiều ngày tựu trường, tôi có một cảm tưởng thật lạ. Bên trong Nhà Nguyện Chủng Viện khác hẳn với nhiều nhà thờ ngoài xứ. Nhà Nguyện có lối kiến trúc gothique, giống như nhà thờ Tuy Hoà mới xây sau này (1962) mà tôi đã thường đến vào những năm tiểu học lớp Nhì lớp Nhất. Trần nhà cao vút lên làm thành một cái vòm như lòng hai bàn tay chắp lại.
Hai dãy ghế quỳ xếp gọn gàng từ cung thánh xuống tới cửa ra vào. Bên dãy ghế trái, vào gian cuối, kê cái đàn Harmonium, phủ bằng tấm vải nỉ xanh. Sau cái đàn còn có vài hàng ghế nữa, chỉ dành cho những người giúp việc nhà Bếp tham dự chung thánh lễ với các chú trong những dịp lễ thật trọng. Từ khi các lớp lớn được gửi đi học xa, thì những hàng ghế sau cái đàn thường bỏ trống. Những anh được chọn vào ban Solo thì ngồi ở những hàng ghế ngay trước đàn. Tường hai bên có cửa sổ bằng kiếng màu xanh và trắng, mỗi sáng khi mặt trời lên, lúc lễ chưa xong, ánh nắng chiếu qua lớp kiếng mầu làm sáng hẳn lòng nhà Nguyện. Sát tường, hai bên hông, có hai lối lên gian cung thánh.

Phòng thánh nằm ngay sau gian cung thánh, ngăn bởi môt bức tường cao, trên có treo một tượng thánh giá có Chúa Chịu Nạn bằng gỗ, rất đẹp. Chúng tôi được các chú lớn cho biết cây thánh giá này được điêu khắc từ Pháp, bằng gỗ sồi, rất quý. Sau năm 1979, thánh giá này được đem về TGM. Sau đó, khi nhà thờ Ba Làng xây lại gian cung thánh, chúng tôi đã xin TGM được đem tượng này về Ba Làng, hiện đang treo tại đấy .
Ngay sau lưng cây Thánh giá, bóng điện néon màu xanh nhạt chiếu hắt ra khiến thánh giá được nổi bật lên rất trang nghiêm và đẹp. Hình ảnh này tôi còn lưu giữ mãi trong tâm tưởng.
Gian phòng thánh rộng, một bàn dài chiếm suốt chiều rộng nhà Nguyện dùng để dọn áo lễ. Chân bàn biến thành tủ nhiều ngăn đựng chân nến, lư hương... đèn sáp.

Nằm thành hình rẽ quạt phía sau là năm hay sáu gian nhỏ kê bàn thờ để các cha Giáo làm lễ riêng. Mỗi vị có một bàn thờ riêng và một tủ áo riêng. Phiên giúp lễ cho các ngài cũng được chia riêng từng tháng một.
Dọc bên hông Nhà Nguyện là một lối đi bên ngoài để vào phòng thánh.
Mỗi sáng những anh nào đặc trách coi phòng mặc áo được rút ngắn giờ Nguyện gẫm để đi dọn bàn thờ, sửa soạn đèn nến, dọn áo lễ cho các Cha và bàn thờ chính.

Năm 1963-1964, mỗi dịp lễ Trọng, những anh lo liệu phòng mặc áo còn một công tác chẳng lấy gì làm thú vị, đó là chùi và đánh bóng những chân đèn và lư hương bằng đồng. Công tác này làm vào giờ travail manuel, nhưng thường lấn luôn sang giờ chơi.
Cố Lành mua cho mấy lon thuốc đánh đồng. Tôi không còn nhớ hiệu gì, nhưng biết chắc là những lọ bằng sắt nhỏ màu đỏ có nút vặn, trong có thứ nước đặc sệt màu vàng vàng như nước sốt mustard, có mùi dầu hoả. Ngài đưa cho một đống quần áo cũ. Thế là chúng tôi xúm lại chia nhau mỗi anh mấy cái chân đèn lo đánh cho lên nước sáng.
Ngoài tám cái chân nến cầm tay, cao chừng nửa thước có hoa văn rằn ri, để cho bốn cặp hầu đèn cầm những dịp lễ trọng, còn có tám cái chân đèn đứng, rồi Mặt Nhật (Ostensoir) thánh giá, bình xông hương, và lư hương. Mỗi năm phải đánh bóng ít là ba bốn lần. Anh nào làm phòng Thánh cũng ghét công tác này. Đánh xong, chân đèn thì sáng mà tay mình lại đen thui .
Ngược lại, các ông từ được uống... rượu lễ. Thời Cố Gervier làm quản lý, rượu lễ chưa bị hạn chế, mỗi lễ các các cố Tây đổ đầy một burette rượu. Nhưng các Cha Việt chỉ dùng chừng nửa burette thôi. Một cái burette nhiều lắm bằng chừng một phần năm cái cup nước. Năm 1963, mỗi cha có rượu riêng, đến gần đáy chai thế nào cũng có cặn. Đây là phần các anh dọn phòng thánh. Tôi lo phòng thánh nhiều năm. Lần đầu vào năm 1966, trưởng ban là bác Nguyễn Đăng Khoa. Sau đó đến thời bác Nguyễn Trọng Tôn. Khi các bác ấy đi du học rồi , thì làm chung với bác Nguyễn Thường. Và năm cuối cùng làm trưởng ban.

Qua nhiều đời phụ trách phòng thánh, tôi chưa thấy thời nào huy hoàng bằng thời Cố Gervier. Vào muà hè, các Cha trong địa phận cấm phòng tại Chủng Viện. Chúng tôi, nhà ở gần, nên phải vào giúp lễ và phục vụ bàn ăn . Mỗi buổi sáng sau khi giúp chừng ba lễ, thì mặt đỏ lên, mắt long lanh và thấy đời tươi như hoa: Các bác Khoa, Thức, Thành, Ngạn, Cha Vinh chắc còn nhớ những chi tiết này?
Một chi tiết thú vị, nhờ bác Thức nhắc lại tôi mới nhớ: Năm 1963, Chủng Viện làm lễ không có giảng. Chiều thứ Bảy, sau giờ làm bài và trước giờ Chầu, mọi người tề tựu ở phòng học chú Nhỏ và Cha Chủ tế đã giảng lễ lúc đó cho ngày Chúa Nhật hôm sau.
Giờ đây, nhà Nguyện đã bị đập tan, biến mất. Vị trí nhà Nguyện bây giờ là con đường hai chiều chạy suốt từ Nha Trang ra Bãi Tiên. “Thương hải biến vi tang điền” hay “Nguyện đường biến vi xa lộ” cho hợp thời nay. Dù vậy, tai tôi vẫn còn nghe tiếng đờn Harmonium trang nghiêm và cao sang đưa tiếng hát của toàn thể Chủng Viện lên cao trong bài Ca nhập lễ mừng kính Đức Mẹ hàng năm “Virginis ...” Gaudea a á mus, om- nes in Do- ó o mi- ì í no, díem festum (-um) ce-le-bran-tes- sub honore Mariae…

Đức Khang 63