Đời Sao Biển – năm thứ nhất Hồ Trí Thức 59
“Cám ơn các bạn thúc giục tôi,
như lòng nhiệt thành nhà Chúa đốt cháy tôi”
Đi tìm lại quá khứ
Ave Maris Stella.
Đối với tôi, nhớ về Sao Biển là nhớ về một chuỗi kỷ niệm ấu thơ thật ngọt ngào, thật êm dịu và đầy hạnh phúc, là cả một kỷ niệm được nuông chiều, chắt chiu.
Cứ mỗi lần về Việt Nam thăm gia đình ở Ba Làng, tôi lại thả bộ xuống Hòn Chồng và cũng không quên đi vào thăm lại trường mà mình đã theo học, nay là trường kịch nghệ, để tìm lại một quá khứ êm đềm của một thời thơ ấu. Người gác cổng hỏi, tôi cho biết đây là trường cũ của tôi, rồi ung dung đi vào, vừa đi vừa quan sát để nhớ lại những dấu tích cũ. Đây là con đường sỏi mỗi tối tôi cùng các bạn đi lần hạt, cất cao lời kinh Ave Maria. Kia là sân chơi, phòng ngủ, nhà cơm… Tôi đi vòng quanh trường không biết bao nhiêu lần, chụp đủ mọi góc hình, rồi bước vào một lớp học, nói chuyện với các em học sinh về âm nhạc, hội họa, Anh ngữ. Các thầy, các cô dạy ở đây thích cái kiểu nói chuyện của tôi với học sinh, ngỏ ý mời tôi tiếp tục. Tôi lại được dịp nhắc lại những kỷ niệm nơi đây với các em. Trường của tôi đã đổi chủ nhưng vẫn là nơi còn dành để giảng dạy về văn hoá, nghệ thuật.
Nhớ về Sao Biển hơn nữa, khi tuần qua, đi dự lễ giỗ 100 ngày cụ thân sinh của Nguyễn Đức Diện, người em, con cùng cha linh hướng Vũ Đình Hoạt, được gặp lại các lớp đàn em như Hoàng Xuân Lý, Đỗ Văn Hiệp từ Dallas, Nguyễn Đức Khang, Cao Trí Thắng. Rồi có bác Hoàng Trung ở Cali và chú C. bên quê nhà nhắc nhở khuyến khích tôi viết lại những những kỷ niệm ở Sao Biển để cởi mở tâm tình của mình với anh em. Xin cám ơn các bạn, sẵn đây xin gởi lời thăm hỏi đến tất cả anh em CSB và gia đình.
Chọn đường tu
Ý hướng đi tu đến với tôi từ rất sớm, gia đình quen thân với cha xứ Bùi Minh Huy, lại có anh đang đi tu, linh mục Hồ Ngọc Thỉnh. Cái khó là đi ở chủng viện nào? Lúc đó, chủng viện Thanh Hóa ở Bảo Lộc còn nhận lớp cuối cùng, các chủng viện di cư khác như Vinh, Hà Nội, Phát Diệm, v.v., cũng đang thu nhận chủng sinh. Cùng lúc chủng viện Nha Trang mới được thành lập năm 1958, tức một năm sau khi địa phận Nha Trang được thành lập năm 1957, gồm hai tỉnh của địa phận Qui Nhơn là Khánh Hoà, Ninh Thuận và thêm hai tỉnh thuộc giáo phận Sài Gòn là Bình Thuận, Bình Tuy. Chủng viện lúc ấy cũng đã có hai chú là Nguyễn Bình An và Nguyễn Công Khảm gốc Ba Làng đang học huitième. Cuối cùng thì thầy mẹ tôi quyết định cho tôi thi vào Sao Biển với lý do: con còn nhỏ, đi Bảo Lộc xa quá, sinh ra nhớ nhà, v.v. Cha xứ đồng ý, nhưng vẫn còn lưỡng lự vì tôi còn nhỏ, đang học lớp nhì tiểu học mà lại từ lớp năm lên thẳng lớp nhì. Thường thì phải lớp nhất xong mới được thi vào chủng viện và đặc biệt là niên khoá 1959-1960 là năm đầu tiên có thi tuyển vào. Năm trước đó, hai anh An và Khảm được vào thẳng khi có lời giới thiệu. Từ đó, thỉnh thoảng tôi nghĩ đến chữ “đi tu”… và càng nghĩ nhiều hơn vào chiều chủ nhật và thứ tư. Dễ hiểu thôi, vì các chú chủng viện có thói quen đi dạo vào những ngày đó tới khu tập bắn của Trường hạ sĩ quan cuối xứ Ba Làng. Giờ các chú đi qua cũng là lúc tôi được tắm biển, dĩ nhiên tôi thầm liếc và quan sát các chú… Họ mặc quần tây khá luộm thuộm mà trông cũng oai ra phết. Có chú đội nón cối trắng giống mấy ông đội, cụ lý làm việc cho Tây. Tôi thích mấy chú đội bêrê hơn vì xem ra có vẻ trẻ trung. Chú nào cũng mang sandale rất dễ thương. Họ đi từng nhóm để chuyện trò, có người vừa đi vừa thổi harmonica. Một hôm có cha Tây đi dạo chung, thấy các chú nói tiếng Tây với ngài, tôi lại càng thán phục và càng thấy họ thật là oai… Mặc dù tôi đã học tiếng Pháp riêng với thầy tôi, nhưng thấy họ đối đáp được với người nước ngoài, tôi lại càng thán phục hơn và ước ao được như họ. Sau này tôi biết đó là cha Lagrange.
Sao Biển, con đường đi…
Rồi ngày hè cũng tới, cha xứ giúp chúng tôi học kinh giúp lễ bằng tiếng Latinh để chuẩn bị thi vào chủng viện. Buổi sáng ngày thi, cha xứ đãi một bữa no nê, rồi dặn dò đủ điều. Chúng tôi thủng thỉnh đi bộ vào chủng viện, đến nơi thì được thầy giám thị Ngọc - cha Nguyễn Thạch Ngọc, quản lý địa phận hiện nay, tiếp đón, dẫn vào phòng thi. Bài thi gồm hai bài toán, một bài chính tả và một bài luận tả cảnh Hòn Chồng. Làm bài thi xong chúng tôi lần lượt vào gặp cha Clause (cố Hồng), bề trên chủng viện. Lần thứ hai trong đời tôi đứng gần một cố Tây người Pháp, với mái tóc và bộ râu quai nón trăng trắng thật là đẹp, đôi mắt sắc sảo nhưng hiền từ. Năm trước khi cha Bouiller (cố Bình) thuộc tu hội Xuân Bích về Ba Làng học tiếng Việt với thầy tôi, đi đâu ngài cũng dẫn tôi theo để đọc sách học tiếng Việt lớp năm cho ngài nghe. Khi vào gặp cha bề trên ai cũng lo lo, sợ sệt. Khảo kinh giúp lễ xong, ngài hỏi han vài ba câu chuyện, đo chiều cao từng người và quan sát chúng tôi vài phút. Có chú sợ mình cao quá, nên cúi lưng xuống cho thấp hơn, ngài bảo cứ đứng tự nhiên. Vài chú không thuộc kinh, ngài cũng nhắc nhở với nụ cười thật nhân hậu. Sau này, khi nghe Hoàng Xuân Lý kể lại chuyện hành trình khó khăn lo âu từ Long Hương về Phan Thiết để dự thi vào chủng viện, thì nếu Hoàng Xuân Lý gặp cố Tây lần đầu như tôi gặp cố Clause thì sẽ phải lầm bầm:
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng…
Thi xong chúng tôi được dùng cơm trưa tại chủng viện, thật là ngon, cảm giác ngon là vì lần đầu tiên được ăn chung với các bạn, có trái chuối tráng miệng, ca nước lạnh, vừa ăn vừa uống như Tây vậy.
Xong xuôi, tôi đi bộ dọc đường biển về nhà. Mọi người xúm lại hỏi thăm bài thi và nhắc tôi cầu nguyện với Chúa. Thú thật lúc ấy tôi cũng chẳng biết cầu nguyện là gì ngoài việc xin cho được đậu vào chủng viện.
Rồi tôi cũng đã nhận được tin báo đậu, với một tờ giấy liệt kê những thứ phải sắm nào là quần dài trắng, áo dài đen, quần tây xanh biển, sandale, nón cối trắng, nón bêrê đen, harmonica (nếu muốn)… một vài đồ bị cấm mang vào chủng viện là đèn pin, đồng hồ… để tránh phân biệt giàu nghèo giữa anh em với nhau.
Vài ngày sau khi biết tin đậu, chúng tôi vào chủng viện chơi thì gặp hai chú Liêm và Trung ở Bình Tuy, đã vào trường sớm hơn gần cả tháng. Ông bạn Trung của tôi mới qua Cali được hai năm. Phải chi bác ấy qua đây sớm như ngày xưa vào chủng viện thì vui biết mấy! Sợ hai chú buồn, các cha bảo chúng tôi hàng ngày vào chơi với họ.
Ngày nhập học
Đến ngày nhập học, đoàn chủng sinh Ba Làng gồm An, Khảm, Khoa và Thức vượt qua đường dọc bờ biển vào chủng viện. Hai bà mẹ, mẹ tôi và mẹ chú An, tình nguyện tháp tùng gánh 4 vali của 4 chú trên hai đôi gánh. Mỗi vali đặt vào một thúng, mỗi bà hai thúng, vị chi chỉ cần hai bà. Các chú hiếu kỳ đứng nhìn phái đoàn không giống ai của chúng tôi tiến vào. Đúng là một sự việc lạ lùng xảy ra giữa thế giới văn minh của năm 1959. Sau này nhiều lần tôi bị chọc quê cũng vì chuyện này. Nhạc Phạm Duy có bài “Bà mẹ quê” gần đúng với cái cảnh của chính bản thân tôi. Các bạn có tưởng tượng được hình ảnh hai bà mẹ với hai đôi thúng ung dung vào chủng viện, leo tuốt cầu thang vào tận phòng ngủ. Mấy cố Tây gọi cái sự kiện này là fantastique hay formidable. Ngày mẹ tôi qua đời, hình ảnh ấy cứ hiện lên trong trí tôi suốt cả mấy tuần. Cuối cùng thì hai bà mẹ cũng phải tạm biệt ra về, mẹ tôi cố giấu đi hai hàng nước mắt vì biết con mình cũng sắp sửa khóc vì… xa nhà từ đây.
Giờ đây chủng viện đầy ắp âm thanh của nhiều địa phương, phần lớn là giọng của anh em Phan Rang, Nha Trang, số nhỏ là dân Bắc, Nghệ An, Hà Tĩnh di cư. Lần đầu tiên gặp nhau, chúng tôi còn e ngại, không dám nói nhiều, có nói thì nói nho nhỏ với nhau. Đi mua chiếu ở phòng cha quản lý Mollard, cũng ngại ngùng nói không ra tiếng vì sợ giọng của mình nói không ai nghe được. Nhớ lại, ngày mới qua Mỹ đi giữa đám đông người Mỹ mà không dám nói tiếng Việt to tiếng. Nơi xa lạ ai cũng e ngại. Chạy lên phòng ngủ vừa trải chiếu, vừa nhìn quanh thấy một bạn đầu trọc 100% đang chăm bẳm nhìn tôi. Tôi vội vàng gật đầu chào, nhưng vẫn không dám nói… Sau tôi mới biết đó là chú Đoàn Sĩ Thục. Thức, Thục nằm gần nhau cuối nhà ngủ chú nhỏ, bên cạnh nhà các xơ. Mãi sau này có dịp hỏi lại thì Đoàn Sĩ Thục cho biết là khi biết tin được đi tu thì nhờ ông thợ hớt tóc cạo trọc cho nó oai. Chợt nghĩ lại mới thấy ông bạn Thục của tôi đã đi trước thời đại hằng cả mấy chục năm vì bây giờ người ta thường nói “bald is sexy”.
Các lớp Sao Biển
Lúc bấy giờ cả chủng viện chỉ có 4 lớp, lớn nhất là cinquième lớp của anh Phan Đình Tạc, Nguyễn Văn Chung; rồi đến sixième lớp của Nguyễn Thành, Nguyễn Nghi, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hoan (Bình Cang), Nguyễn Văn Xin (Cây Vông), Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Hạnh (Đại Điền), Lê Văn Thành (Chợ Mới); Nguyễn Bình An, Nguyễn Văn Lạc… học septième, rồi đến lớp chúng tôi (huitième) gồm ba chục mạng mà tiêu biểu là Đoàn Sĩ Thục, Mai Tính, Hoàng Văn Khanh, Hoàng Trung… Tổng cộng cả trường gần 70 chú.
Nói cho đúng thì cả trường có 5 lớp, nhưng lớp quatrième chỉ một mình anh Nguyễn Văn Hoà, phải học chung với các thầy ở dòng Phanxicô, gần Lasan. Cứ mỗi sáng sau cơm nước, anh nói chuyện với cố Mollard một hồi rồi lên xe đạp đi học đến chiều mới về. Anh Hoà là con ông biện Trung xứ Nhà thờ Chính toà, nhà ngay góc đường Yersin và đường Nhà thờ. Anh em anh Hoà đều tu học ở dòng Lasan. Một mình anh vào học chủng viện. Nhìn anh, tôi thấy anh Hoà là người sung sướng nhất của chủng viện. Đặc biệt là mỗi lần rao điểm, anh được xướng tên đầu tiên: Premier, prix d’excellence Nguyễn Văn Hoà. Cả trường vỗ tay… Có lúc tôi suy nghĩ, không biết anh Hoà đứng nhất (premier) hay đứng chót (dernier) trong cái lớp chỉ có một người. Sau đó anh học tiếp ở Phanxicô Thủ Đức, ra Providence, Huế, lên Giáo hoàng học viện… rồi probation ở chủng viện. Vài năm sau, anh xin ra, học ban Anh văn ở viện đại học Đà Lạt, đậu thủ khoa về dạy lại chủng viện, làm phụ khảo ở đại học Đà Lạt, rồi đi du học.
Sau lớp anh Hoà là lớp anh Phan Đình Tạc (Đại Điền), Nguyễn Văn Chung (Chợ Mới) đến các anh Nuộc, Lộc, Nguyễn Ngọc Tiên (Hộ Diêm), anh Thế (Đồng Đế), Kinh, Luân (Ninh Hoà), Thế (Gò Dê, họ nhánh của Chợ Mới (tức Ngọc Thủy bây giờ), Nguyễn Hoan, Nguyễn Hoàng, Truyền (Bình Cang). Nghe anh em đồn anh Hoàng con cưng của các cố Tây, nói tiếng Tây rất hay, nên tôi hằng ao ước được nghe anh ấy nói, nhưng chưa bao giờ tôi được diễm phúc đó. Hiện nay anh Hoàng đang ở Tennessee và chắc không còn nhớ tiếng Tây được nhiều. Thực sự mà nói, nhìn vào các lớp đàn anh là cả một sự thèm thuồng, không biết đến bao giờ mình mới được “vĩ đại” như họ. Các anh lớp sixième cũng tỏ ra người lớn ghê gớm vì họ bắt đầu học thêm tiếng Latinh. Nhìn các anh ôm chồng sách có cuốn tự điển Latinh dày cộm thấy mà buồn cho bọn nhỏ huitième chỉ nhận được vài cuốn sách tiếng Việt và vài cuốn tiếng Tây hạng bét. Lớp này có các anh Tống Viết Minh (Tân Bình), Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Thành “xỏ dép”, Nghi (Bình Cang), Đỗ Văn Nhơn (Chợ Mới), Nguyễn Hạnh (Đại Điền), Nguyễn Xin (Cây Vông), Hoành (Phan Thiết), v.v. Tôi cũng khám phá ra lớp này có một anh chàng Bắc kỳ “đặc” tên là Nguyễn Văn Công, được các bạn đặt cho cái tên rất Bắc: “Công thịt chó”. Mấy chú này khi đi rước lễ rất ấn tượng, chắp hai tay đưa lên cao, chân mang sandale gắn nẹp sắt nện mạnh vào nền nhà nguyện kêu lộp cộp, lạp cạp. Ngay những năm đầu tiên, nhà nguyện chủng viện là nhà ngủ chú lớn (rồi chú trung sau này). Toàn chủng viện chỉ có một nhà ngủ (dortoir) chính và một phòng ngủ nhỏ dành cho 10 chú lớp cinquième. Tuy chưa có chú nhỏ, chú lớn nhưng có giai cấp lớn nhỏ trước sau rõ ràng. Hơn nữa ngay đầu giường ngủ các chú lớp cinquième còn có thêm một cái bục vuông nhỏ để đặt vali, còn chúng tôi thì phải đặt vali dưới giường, mỗi lần lấy đồ phải cúi xuống, kéo vali ra mới lấy được. Tôi cứ mong đừng bị đuổi để mấy năm sau có cái bục kê vali như các anh lớn. Nhưng năm sau thì mấy cái bục đó đã bị đem đi đâu mất. Một điều lạ nữa là các anh lớp lớn đi dạo lúc nào cũng mặc quần áo thẳng thắn, có nếp. Tôi tò mò khám phá, các chú lớn ai cũng có hai cái chiếu, ép quần áo vào giữa thay cho bàn ủi. Đúng là sáng kiến của lớp đàn anh để bọn nhỏ học theo.
Thỉnh thoảng tôi bị các anh lớn như Phan Đình Tạc, Nguyễn Văn Châu chiếu cố và ra tay chỉ giáo. Họ nói gì thì tôi cứ “vâng, vâng”.
- Chỉ dạ thôi, họ bảo.
- Dạ vâng, à quên, dạ, dạ; tôi đơn sơ thưa.
- Nói sai “dzậy” nên có thể “bị dzậy”!!!
Hoặc họ dạy bảo tôi:
- Ăn cơm là ăn với cái chén nghe chưa, không có cái bát nào cả.
- Thưa vâng, mà quên, dạ…, tôi nói.
Nếu là bây giờ thì đúng là vi phạm nhân quyền và có thể bị kiện ra toà vì tội kỳ thị bắc trung, lớn bé.
Các thầy giám thị chúng tôi là thầy Nguyễn Văn Vĩnh và thầy Nguyễn Tôn Sùng. Thầy Vĩnh ngủ ở phòng ngủ lớn với chúng tôi, thầy Sùng ngủ phòng nhỏ với các chú cinquième. Cũng có phòng giám thị nhưng cái phòng nhỏ xíu như xà lim, các thầy dành để cất đồ đạc hoặc ngồi đọc sách, chấm bài.
Ngay sau ngày nhập học là những ngày cấm phòng. Cha giảng phòng là Lê Công Khương, giám đốc Caritas địa phận. Ngồi trong nhà nguyện (trên lầu) nhìn thẳng qua mấy hàng dừa là thấy nhà tôi, lúc đó dòng Kín chưa xây. Ngay đêm đầu tôi đã khóc vì nhớ nhà. Các thầy giám thị, các bạn khuyên bảo, tôi vẫn cứ khóc. Khi có người doạ khóc nhiều thì cha bề trên sẽ cho về thì tôi mới nín.
Lúc này chủng viện có 6 cha. Cha Jeanningros (cố Vị) mới từ Phước Thiện, Ninh Thuận về làm bề trên, cha Clause làm linh hướng, cha Mollard (cố Lễ) làm quản lý, cha Lagrange (cố Quang), cha Mai Khắc Cảnh và Nguyễn Quang Sách. Cha Jeanningros trước đây ở Trà Kiệu, Quảng Nam nên khi bực mình chú nào, ngài nói tiếng Việt rặt giọng Quảng: “cái thèng ni”. Hình như bác Hoàng Trung bắt chước giọng nói “cái thèng ni” khá chuẩn, nên thỉnh thoảng bị vài cú rờve đỏ mặt, tía tai. Chú nào để tóc dài mà bị chiếu cố, thì sau thánh lễ chủ nhật sẽ được ngài gọi vào phòng dùng kéo đi một đường lã lướt trên mái tóc, không cần biết hình hài mái tóc sau đó sẽ như thế nào.
Thầy Vĩnh vừa làm giám thị vừa dạy chúng tôi môn Pháp văn cùng với cha Sách. Thầy Sùng dạy toán và khoa học. Đặc biệt thầy nào cũng thích kể chuyện sau bữa cơm tối. Tôi còn nhớ thầy Vĩnh kể chuyện Aulit và Ocxu cả một năm mà vẫn chưa hết. Thầy Sùng lại kể chuyện “Ba chàng ngự lâm pháo thủ” và khi hết nhiệm vụ ở chủng viện cũng chưa xong. Vài anh lớn bắt chước kể chuyện cho đàn em, nhưng được vài hôm thì hết, thế mà chúng tôi cũng mê mệt lắng tai nghe. Chú nhỏ nào được lọt vào mắt các anh lớn thì được nhận làm “bồ tèo” mà “bồ tèo” thì được cưng chiều, có khi được quà, bánh trái… Cái nếp “bồ tèo” truyền từ lớp này qua lớp khác. Oh, my God! Các bạn còn nhớ: “numquan duo, semper tres” không? Đó phải chăng là một nếp văn hoá trong đời sống nội trú?
Chuyện khó hằng ngày trong chủng viện
Hai cha Lagrange và cha Mollard phụ trách tập hát cho chúng tôi những bài hát Latinh. Tôi còn nhớ bài Ave Maris Stella, Dei Mater thường được hát sau giờ chầu. Có lẽ những ai đã có thời gian ở Sao Biển thì không thể nào quên âm hưởng của nó, lâu ngày nghe lại cũng có thể hát theo. Tình cờ tôi được chú Lý cho nghe bản nhạc “Sao Biển, người Mẹ yêu” và “Về lại đây”do Đỗ Vy Hạ, một người đàn em Sao Biển sáng tác và hát, tôi lại càng cảm kích như muốn tìm lại ngay dư âm ngày xưa.
Trong nhà nguyện, thầy Sùng phụ trách đệm đàn. Mùa Noel năm đó thầy Vĩnh đã tập cho chúng tôi bài “Đêm thánh vô cùng” và một vở kịch ngắn: “Abraham dâng con cho Chúa” vào những giờ chơi do thầy Sùng đạo diễn. Tôi được phân công đóng vai Isaac. Đây cũng là lần đầu tiên các chú được tổ chức văn nghệ trong chủng viện, nhưng chỉ ngắn gọn. Vâng, đó là cuộc cách mạng đầu của các chú yêu sách với các cố. Có một điều lạ nữa là không có bài giảng trong thánh lễ chủ nhật mà chỉ có bài giảng vào chiều thư bảy hôm trước trong phòng étude chú nhỏ.
Lớp 8 của chúng không có gì đặc biệt trong việc học hành, nhưng các lớp đàn anh lại ganh tỵ: “Tụi bay học sướng, dễ hơn tụi tao nhiều”. Họ cũng hay dùng từ “un arbre” (một cây xanh rờn) để chỉ một người xuất sắc về một vấn đề gì. Ai giỏi toán thì “un arbre de Math”, giỏi Pháp thì “un arbre de Francais, v.v. Lúc ấy, tôi nghĩ mấy anh septième là ngon nhất vì đã có lớp đàn em thì tha hồ mà doạ nạt, mà nói dóc… Lớp septième có Phạm Ngọc Phi, Nguyễn Xuân Nhị (Ninh Hoà), Nguyễn Son, Lê Đưa (Hộ Diêm), Nguyễn Văn Tý, Trương Văn Trực (Hà Dừa), Nguyễn Văn Lạc (Tầm Hưng), Nguyễn Văn Hoa (Phước Thiện), Nguyễn Văn Trọng (Nha Trang). Dương Công Luận (Gò Dê), Nguyễn Bình An, Nguyễn Công Khảm (Ba Làng)…
Sở dĩ các anh lớp 7 ganh với chúng tôi là vì năm trước thầy Huệ và thầy Ngọc làm giám thị rất khắt khe, khi xin ra ngoài, sẽ bị khảo: “Cây bông thiêng liêng hôm nay là gì”, nếu không biết có thể bị nhéo tai, bị quì, có khi bị cấm luôn. Tôi thầm nghĩ không cho đi ngoài lỡ cái quần ướt thì sao?…
Ngoài ra trong giờ học, cha Sách khảo bài lại rất chi li. Cái khó không phải là bài mà từng chữ. Chẳng hạn khi trả bài Việt sử, ngài hỏi cắc cớ: “Chữ đầu tiên của bài hôm nay là gì?”, không biết là bị một hai bạt tai, điểm zéro, đi xuống. Người ngồi dưới bị gọi lo tìm chữ đầu bài thì ngài lại hỏi chữ cuối… người thứ ba được gọi lên thì lại bị hỏi bài này mấy đoạn, mấy phần… Tôi nghe chuyện các anh lớp 7 kể mà lo cho số phận của mình. Có lẽ cha Sách nghĩ lại nên ngài lại dễ với lớp chúng tôi.
Lớp tôi học gần với lớp 7, khi thấy các anh bị đánh mà thương, cha Mai Khắc Cảnh đánh các anh ấy một cách dã man, ngài ra lan can lấy cán gáo uống nước đánh các chú gãy, hôm sau người giúp việc thay cái khác, lại cũng bị gãy. Có lần ngài dùng cây compa lớn đánh vào đầu anh Tống Viết Minh chảy máu… thấy tội nghiệp và thương hại các anh! Cũng may chúng tôi được học với cha Sách, khó đấy nhưng cùng lắm là bị bạt tai hoặc bị mời đi vacation với câu bất hủ “à la porte”. Có lần tôi được hân hạnh “à la porte”, đang lơ ngơ lớ ngớ trên hành lang thì Đức cha Piquet vào thăm chủng viện. Gặp tôi ngài hỏi: “Sao đứng ngoài?”, tôi thật thà: “Bị à la porte”, ngài hỏi thêm, tôi im lặng. Ngài hiền hoà khuyên phải chịu khó học tập và chăm chỉ hơn.
Không hiểu sao từ đó tôi được các thầy giám thị cưng, có phải vì học giỏi chăng!… Tôi nghĩ có lẽ có một lý do nào khác nữa. Thầy Sùng và Vĩnh rất mê đánh cờ tướng. Không hiểu họ biết thầy tôi cũng rất mê cờ tướng từ bao giờ, nên thường xuyên cho các chú đi dạo Ba Làng vào ngày chủ nhật. Chắc chắn hai thầy đã oánh tù tì, nên khi đi qua nhà tôi một trong hai thầy vào chơi cờ với thầy tôi (kỳ sau thầy khác). Còn người kia dẫn các chú đi. Khi trở về, tôi lại được chạy vào nhà báo, nhưng cũng phải chờ cho hết ván cờ, rồi hai thầy trò xuống biển theo chân anh em. Tôi thích nhất là mỗi lần ghé qua nhà là có thêm bánh kẹo.
Đi dạo về là được tắm biển trước khi vào chủng viện. Tôi học thêm được cách thay quần dã chiến của thầy Vĩnh và cái thói quen không cần tắm nước ngọt. Thầy bảo cứ để nước mặn thấm vào người thì tốt hơn. Thực sự mà nói, năm đầu ở chủng viện có bao giờ tôi được tắm đàng hoàng đâu. Vì nhỏ con nên khi giành được cái gàu múc nước đem vào phòng tắm thì đã gần hết giờ, hôm nào hay lắm thì cũng chỉ dội vội vàng được một hai gàu cho nước chảy qua loa trên người. Chẳng khi nào kịp kỳ cọ. Thế mà đứa nào cũng lớn lên như thổi.
Năm đầu tiên ở chủng viện ngoài việc đi dạo hằng tuần còn có chuyến đi dạo hằng năm. Hình như là vào ngày thứ hai lễ Phục sinh, chủng viện tổ chức một cuộc đi dạo lớn, được ăn ngon, chơi nhiều trò… Chỉ việc nghe các anh lớn kể chuyện ly kỳ trong các lần đi dạo trước tôi đã thấy thích thú, nên cứ mong cho mau đến ngày đó để được chơi cho thoả thích.
Nhưng không may cho tôi, gần đến ngày thi thì tôi bị thương hàn. Cha Mai Khắc Cảnh coi phòng bệnh, thấy bệnh có vẻ trầm trọng, nên báo cho mẹ tôi biết để đem đi bệnh viện bác sĩ Hoàng ở Nha Trang. Mẹ tôi khóc sướt mướt vì sợ con chết. Khoảng một tuần sau bớt bệnh, tôi lại trở về phòng bệnh ở chủng viện. Đang nằm bệnh, mẹ tôi vào thăm mang cam; cha Cảnh (người Thanh Hóa, hồi nhỏ học TCV Ba Làng) tiếp chuyện vui vẻ, ngài tự nhiên bóc hết trái cam này đến trái khác ăn. Hết, mẹ tôi lại mang ra thêm. Có lẽ ngài nghĩ bệnh của tôi ăn cam không tốt, bù lại ngài xin nhà bếp nấu súp rau nhiều và bắt tôi ăn. Khi ra khỏi phòng bệnh, tôi còn đuợc ăn thêm một bữa vào giờ chơi mấy tuần liền cho lại sức. Cám ơn lòng tốt của ngài dành cho tôi.
Khi nằm bệnh viện, tôi biết thêm vài chuyện hay hay. Kỹ thuật tiêm của cha Cảnh là châm kim vào mông trước rồi đưa ống chích vào sau. Có lần ngài châm kim vào mông một chú thì có người gọi, ngài vội đi làm chú ấy nằm chịu trận cả tiếng đồng hồ. Một chú khai bị bệnh đau bụng, không biết thiệt hay giả, ngài doạ chú bệnh nhân chắc là phải mổ bụng v.v. làm chú bé sợ quá, vội khai hết đau bụng rồi chạy biến. Còn kim chích thì vài ngày mới nấu một lần… vậy mà không ai trong chủng viện có vấn đề vì kim chích, đúng là mầu nhiệm…
Nằm bệnh viện một tháng đã làm tôi mất dịp đi dạo lớn lần đầu tiên mà tôi đã mơ ước mấy tuần trước. Bệnh thương hàn cũng làm tôi rụng hết tóc. Tôi bị mang tên Thức trọc từ đó. Cũng vì bệnh vào cuối năm, làm tôi không có dịp nhảy lớp năm sau. Cha bề trên bảo tôi còn nhỏ và mới bệnh xong, không nên nhảy lớp, tôi cũng không tiếc gì. Tôi đứng thứ nhì, Đoàn Sĩ Thục thứ nhất được nhảy lớp. Điểm cuối năm thì Thức, Thục thay phiên nhau nhất nhì các môn.
Những kỷ niệm trong năm đầu
Năm đầu ở chủng viện còn nhiều kỷ niệm đáng nhớ, tôi xin chia sẻ với anh em.
Chuyện thứ nhất: gương hiếu thảo với cha mẹ tôi học được nơi cha Sách. Thời đó các cha còn nghèo, ngài chỉ có chiếc xe mobilette và một cái radio. Cuối tuần, tôi thấy ngài cẩn thận bỏ cái radio vào túi vải lấy xe đi chơi lúc các chú đi dạo. Khi đã thân thiện với ngài, tôi hỏi ngài mang radio đi đâu, thì ngài cho biết là cuối tuần mang về cho cha mẹ nghe chung cho vui.
Chuyện thứ hai là đức khó nghèo và bác ái nơi cha Clause. Tôi thấy các cha đều có xe máy mà cha Clause vừa là bề trên cũ, vừa là cố vấn của Đức cha Piquet mà chỉ có chiếc xe đạp để trong phòng. Khi đi dạo về phía Vĩnh Hải, tôi thấy ngài cũng đi về phía đó, tôi mạnh dạn hỏi ngài thì biết được ngài đi thăm trại cùi gần đèo Rù Rì để giúp đỡ các bệnh nhân.
Anh Chung, lớp cinquième, thuộc xứ Chợ Mới, vần đầu lớp luôn hướng dẫn anh em mừng lễ quan thầy các cha giáo. Tôi còn nhớ câu cuối cùng của anh lúc nào cũng dẻo nhẹo: “xin cha cho chúng con nghỉ một buổi”, chứ không xin lương thực ngày. Các chú đồng thanh: “xin cha nhận lời chúng con”. Thế là các chú được thêm một bữa nghỉ để đi dạo. Tôi thân với anh Chung vì anh là trưởng toán quét nhà ngủ của tôi, anh học rất giỏi, thông minh, anh là người duy nhất được học lớp terminale ở dòng Chúa Cứu Thế Vũng Tàu, đậu Bac 2, lên Giáo hoàng học viện học được vài tháng. Xuất ra đi sĩ quan không quân. Anh Phan Đình Tạc và anh Chung học Phanxicô Thủ Đức theo gót anh Hoà mà tôi đã nói ở trên. Trước đó hai anh là hai người duy nhất đậu BEPC trong lớp của mình. Khi anh Tạc làm giám thị chủng viện thì anh Chung về chủng viện để học thi Bac 2, tôi thấy cha Clause rất mến anh.
Kiếp long đong
Thực tình mà nói chủng sinh TCV Sao Biển Nha Trang hình như đều mang kiếp ăn nhờ ở đậu, có lớp ra Providence Huế học, khi thì vào Phanxicô Thủ Đức, An Phong Vũng Tàu, Taberd, TCV Sài Gòn, Viện đại học Đà Lạt, Adran… Có lẽ chỉ có một lớp đi một lèo từ huitième đến première bên rặng dừa là lớp Nguyễn Bình An, Nguyễn Văn Lạc. Lúc đó đã bỏ thi Bac 1 rồi, gần như cả lớp được đề nghị làm thầy sớm. Ban giáo sư chỉ cho hai chú Đoàn Sĩ Thục và Phạm Ngọc Phi tiếp tục học terminale ở Adran, nhưng lại ở bên Villa Soyer cùng các chú Kontum, ngày ngày phải cuốc bộ tới Adran học. Trên một lớp (tức lớp anh Tống Viết Minh) thì có thời gian ở ngắn hơn, nghĩa là một năm ở TGM và 7 năm ở TCV Sao Biển. Hai anh Kinh, Luân (sau này là linh mục) cũng thuộc lớp này vì phải ở lại năm troisième. Nếu không kể hai anh Kinh, Luân ở lại thì lớp đàn anh này không ai “chọn tu là cõi phúc” mà toàn “chọn tình thì mê ly”. Hai người học tốn tiền chủng viện nhất cũng thuộc lớp này là anh Thành “xỏ dép” Bình Cang và Nguyễn Văn Xin, Cây Vông… Vì đã bỏ thi Bac 1, các cha chỉ chọn hai anh lên Adran học nội trú. Có người hỏi tại sao lại học tốn tiền vậy, xin thưa hai chú này có số con nhà quí phái nên được nội trú trong Adran, mà nội trú của mấy ông “chers frères” được ông bạn Đinh Vỹ Đại của tôi phiên dịch là “sư huynh đắt đỏ”. Thực vậy, tiền nội trú một tháng cao hơn tiền lương của một sĩ quan võ bị mới ra trường. Tội nghiệp cho lớp này, cuối năm không ai đậu Bac 2 hết. Khi nói chuyện vui, tôi vẫn gọi lớp này là lớp không có ông “tú” và lại không được linh mục nào. Chủng sinh Nha Trang bắt đầu có mặt tại Adran từ niên khoá 1965-1966.
Một thánh lễ làm tôi cảm động nhất và đem lại cho tôi nhiều mơ ước cho tuổi trẻ là lễ mặc áo dòng cuối năm ở nhà nguyện của các thầy Trương Trải, Nguyễn Quang Phước (em cha Sách), Lê Thiên, Phan Đình Tứ, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Quốc Bửu (Bẩm), Nguyễn Văn Láng và Lê Văn Thanh. Đức cha Piquet chủ lễ làm phép áo. Các thầy lần lượt tiến lên gần cung thánh, hai tay nâng chiếc áo dòng được xếp cẩn thận để Đức cha làm phép. Ôi sốt sắng và linh thiêng làm sao!… Các thầy đi xuống mặc vào và dự lễ chung với chúng tôi. Tôi cảm thấy thán phục các bậc đàn anh và mong mau tới phiên mình. Tôi thầm nghĩ hết lớp terminale là được mặc áo dòng, đếm đốt ngón tay tính ra thì cũng phải mất tám năm nữa. Có một chú lớn nói là: ai mà thi rớt thì được làm thầy sớm. Tôi chẳng hiểu gì cả, chú ấy cắt nghĩa: thi rớt bac 1 (tú tài 1), không được lên lớp học tiếp, thì làm thầy như thầy Thanh, thầy Láng… hai thầy giám thị Vĩnh, Sùng của tụi mình cũng vậy. Các thầy nhà mình cùng lớp với các thầy Thiên, Tứ, Phước, Bẩm, Trải… nhưng đuợc làm thầy sớm vì thi rớt. Sự việc là như vậy. Có lần suốt mấy ngày các cha phải trông coi chúng tôi, hai thầy phải đi thi tú tài 1 chương trình Việt ở Nha Trang. Thầy Sùng đậu, năm sau nhập học với lớp đàn em Lê Xuân Thượng, Nguyễn Quang Thạnh, Đào Trí Cầu, Lê Văn Đông, Nguyễn Trọng và Nguyễn Quới. Họ rời Providence Huế vào ở TCV Sài Gòn để học terminale ở trường Taberd. Thầy Vĩnh tiếp tục đi học triết ở Đại chủng viện. Tôi còn chứng kiến một chuyện lạ nữa là thầy Thanh (Cà Đú), Láng ở ĐCV Xuân Bích cùng lớp với thầy Thạnh, Thượng học GHHV, nhưng lại chịu chức linh mục cách nhau 4 năm. Vì hai cha Láng và Thanh học trung học ít hơn một năm, giúp xứ ít hơn một năm, học đại chủng viện lại ngắn hơn hai năm vị chi tiết kiệm được bốn năm.
Nhà nguyện được xây xong cuối năm tôi học huitième. Một thánh lễ truyền chức phó tế và phụ phó tế được tổ chức tại nhà nguyện mới này. Bốn thầy phó tế gốc Vinh: thầy Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Đăng Khoa, Đặng Đình Hoàng và Trần Thúc Đỉnh. Hai thầy phụ phó tế là thầy Nguyễn Thạch Ngọc và Nguyễn Lộc Huệ. Tôi còn nhớ, cả nhà thờ im lặng say mê nghe thầy Huệ đẹp trai với mái tóc chải chuốt tiến ra đọc thánh thư với giọng hát cao ngút, thánh thót: “Lectio Epistoli Sancti Pauli…” Năm 1995 về lại Việt Nam dự lễ truyền chức em trai tôi Hồ Mạnh Tín, tôi thấy mái tóc cha Huệ vẫn còn đẹp như ngày xưa và giọng nói vẫn cao cao như ngày nào.
Khi có nhà nguyện mới, thì nhà nguyện cũ biến thành phòng ngủ chú lớn và bắt đầu có chú lớn, chú nhỏ từ đó. Mấy năm sau có nhiều lớp, hình thành thêm khối chú trung. Khi về Nha Trang lần đầu, tôi thấy một công ty Đại Hàn thuê nhà nguyện làm xưởng may ba lô. Mấy lần sau thì nhà nguyện biến mất vì bị san làm đường. Khi chúng tôi chuẩn bị nghỉ hè thì có thầy phó tế Nguyễn Hoàng Kim, người Đại Điền ghé thăm. Các anh lớn cho biết vài tuần nữa thầy sẽ được chịu chức linh mục. Năm đó địa phận Nha Trang có hai tân linh mục xuất thân từ ĐCV Luro (tức ĐCV thánh Giuse Sài Gòn) ở đường Cường Để. Đó là linh mục Nguyễn Hữu Ban và Nguyễn Hoàng Kim. Sau khi chịu chức linh mục, cha Kim đã đãi các chú một bữa nước dừa uống trong nhà cơm thay vì nước lạnh.
Kỷ niệm buồn
Kỷ niệm sau cùng là kỷ niệm buồn, sau khi rao điểm, một số anh em được gọi vào phòng cha bề trên, đi ra với dáng vẻ buồn hoặc nước mắt chảy dài. Chúng tôi biết ngay các chú đã bị đuổi, bị cho về… Ôi! nghe nó oan nghiệt và buồn bã làm sao!… Khi chúng tôi vui vẻ thì các bạn đó lại buồn xo. Tuổi còn thơ mà mang mặc cảm phũ phàng thì khó mà phai cho được. Dù mới được lãnh phần thưởng, nhưng tôi cũng xót xa cho các bạn mình. Vì từ đây sẽ phải xa những người bạn thân thiết ấy…
Thôi xin cầu cho nhau mọi điều may mắn ngày xưa, hôm qua và ngày mai.
Ave Maris Stella
Hẹn các bạn chương hai.
Hồ Trí Thức SB59
|