Anh ấy, bạn tôi Hoàng Như
Anh ấy...
Anh ấy, bạn tôi, một linh mục, được thụ phong vào năm 1976. Anh không học xuất sắc lắm, nhưng cũng không phải hạng kém. Chúng tôi bắt đầu gặp nhau và cùng đồng hành dưới mái trường chủng viện với 31 mái đầu xanh khác, niên khóa 60-61. Với thân hình nhỏ thó nhưng rất lanh lợi, anh được tuyển chọn tham gia vào đội banh của lớp. Nhờ vào sự tháo vát và nhanh nhẹn, anh đã thi đấu rất thành công ở các bộ môn bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ và các bộ môn đồng đội và đem về cho lớp những phần thưởng đáng kể. Anh cũng là một tay chơi đàn hay và đã từng làm ca trưởng cho chúng tôi. Chúng tôi đồng hành từ Nha Trang ra Huế lên Đà lạt để rồi cuối cùng anh tiếp tục lên Đại chủng viện chuẩn bị cho sứ vụ tông đồ mai sau. Tháng 04-1975, chúng tôi phân tán mỗi người mỗi ngả. Chúng tôi kẻ rớt đuôi, người quay gót lui về trần gian tìm công danh sự nghiệp riêng cho mình. Tôi cũng là một trong số này. Một năm sau, anh được gọi và thụ phong linh mục, nơi địa phận gốc của anh. Cao đẹp thay thiên chức và tinh thần dấn thân của anh! Lớp chúng tôi được chọn vào hàng giáo sĩ nhiều, nhưng đáng tiếc là chỉ còn lại ba bốn anh. Và anh là một trong những người được diễm phúc đó.
Anh được sai đến một nơi xa xôi hẻo lánh, mút cùng biên giới địa phận. Một linh mục trẻ hăng hái nhiệt tình không bao giờ chịu khuất phục trước những khó khăn hoặc tình huống éo le nào. Được huấn luyện kỹ về mặt đạo đức, tín lý cũng như chuẩn bị hành trang với tinh thần phục vụ và hoạt động đoàn thể, anh dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh hiện tại. Anh hoạt động năng nổ bằng sự nhiệt tình, mang lại niềm vui cho cộng đoàn giáo xứ và dễ hòa đồng với những người xung quanh anh. Anh quyết tâm lấy lý tưởng đã chọn làm cùng đích cho cuộc sống mình. Sống nghèo nàn đơn sơ, bắt chước gương cha thánh Gioan Vianey để hoàn thành sứ vụ của mình. Anh không xua nịnh Đức Giám Mục, bề trên của anh, không đi lại với người quyền thế giàu có. Phải chăng anh muốn thực thi Tin Mừng mà anh đã học được nơi Thầy chí thánh và cũng là anh cả của anh để phục vụ nước trời?
Tôi được nghe kể, một lần có một anh bạn linh mục đến thăm anh vào giờ ăn trưa. Anh đã xin lỗi và mời bạn đến dự bữa cơm đạm bạc mà một giáo dân của anh đã mời. Người này hôm đó nhờ một số anh em "trát đất" lại căn nhà, có ý mời cha sở đến tham dự cho vui. Xứ của anh đa số là nông dân nghèo, thật thà, chất phác. Anh và bạn đã đến ngồi vào chiếc chiếu trên nền đất ẩm ướt đầy bùn, nhớp nhúa. Anh bạn linh mục đã thốt lên: "Tôi thực sự thấy anh quá bình dân, anh bạn ạ". Chính sự bình dân của hai linh mục này đã đem lại niềm vui cho tín hữu đó đến nỗi họ đã thành thật nói lên cảm nghĩ của mình: "Chúng con thật cảm động và vui sướng khi thấy các cha cùng ngồi chiếu với chúng con. Ngày xưa chúng con không dám mạo muội như thế này vì chỉ có mấy ông quận trưởng, tỉnh trưởng mới được phép cùng ngồi với các cha, chúng con chỉ là những Lazarô, ngồi ở gầm bàn". Anh là thế đấy, còn người linh mục kia nghe đâu được ơn gọi gia nhập dòng kín nam và chuẩn bị lập một tu hội dòng.
Sống trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thiếu thốn những nâng đỡ tinh thần lẫn vật chất, nhưng anh vẫn không ca thán. Sau những giờ phụng vụ và mục vụ, anh dùng sức lao động của mình để lao động mưu sinh, hằng ngày cùng với một số anh em giáo dân vỡ đất làm ruộng, kiếm lương thực nuôi thân và chi phí vào những ngày lễ lớn của giáo xứ. Nếu túng lắm anh xách bị đi xin nơi đàn anh linh mục khác. Anh luôn đi thăm mục vụ từng gia đình một, thuộc lòng từng tên trong hộ đó. Việc này cũng dễ, vì xứ anh là một xứ nhỏ, ít giáo dân, chỉ vài trăm khẩu người kinh và vài chục người anh em dân tộc. Họ rất nghèo, nhưng họ luôn thông cảm và yêu thương vị chủ chăn của mình. Anh không mặc áo tua dài, đứng trên tòa giảng kiểu "ex cathedra" (Mt 23, 4-6), mà đến với anh em giáo dân chia sẻ nỗi vui nỗi buồn mà họ gặp phải. Với người kinh, anh đến với họ lúc trong nhà tang gia, giỗ chạp hoặc có niềm vui lứa đôi. Với anh em dân tộc, anh hiện diện khi một người thân của họ qua đời, nhâm nhi chút rượu cần sau khi làm các phép sau cùng. Thật tình anh không muốn ra vào nơi quyền quí và giàu có. Anh sống khiêm nhượng, không xưng "cha, con" với cụ ông cụ bà. Chỉ với thiếu nhi, anh mới sử dụng từ này để thêm "poids" giáo dục các em. Là con người, đôi khi anh cũng nóng tính vì sự bất bình hoặc thấy không đúng ý của mình, nhưng rồi anh cũng dằn lòng để tránh tiếng là một người cha chú, một lãnh chúa trong" pháo đài". Dĩ nhiên là người như bao người, anh cũng có những khuyết điểm chỉ có mình anh và Thiên Chúa biết được mỗi khi anh xét mình trước khi đi ngủ, hoặc giữa anh và cha giải tội.
Anh có một đời sống thiêng liêng vững mạnh. Giờ phụng vụ, giờ kinh và công việc mục vụ, anh thi hành nghiêm túc, trung thành. Anh phân chia giờ giấc hợp lý, tiếp chuyện mọi người bất cứ lúc nào họ cần đến. Dù xa, dù gần, nếu có thể giúp được, anh cố gắng làm cho họ vui. Cửa nhà anh luôn rộng mở, không rào chắn. Anh giải quyết vấn đề hợp lý hợp tình, không quá nghiêm khắc cũng không quá dễ dàng, tùy trường hợp anh có thể thông cảm trong phạm vi cho phép. Chính vì thế, anh em ngoài Kitô giáo không coi anh là một lãnh chúa mà lại thường đến với anh như người bạn hay một người làng giềng gần gũi. Anh không phải là người giảng hay, nói giỏi, có tài hùng biện thu hút kẻ khác, nhưng với một giọng nhỏ nhẹ, khiêm tốn rao giảng tin mừng đã giúp nhiều anh em ngoại về với giáo hội. Anh không quan tâm đến chuyện chính trị "chính em", chỉ đôi khi trong bài giảng anh đưa vào để thêm thi vị và làm cho cộng đoàn tươi vui tránh "phải gật đầu đồng ý".
Giờ đây anh đang phụ trách một giáo xứ đông giáo dân hơn và cuộc sống có vẻ thoài mái hơn. Tuy công việc mục vụ dày hơn, nhưng anh vẫn khoẻ và có phần mập hơn so với thời còn trai trẻ. Sống trong vùng kinh tế mới, tính tình anh, công việc mục vụ của anh vẫn như ngày nào, nhưng lòng nhiệt thành không được như trước, có lẽ do ảnh hưởng của tuổi tác.
Đầu thiên niên kỷ thứ ba, anh mừng lễ Ngân khánh linh mục trong một thánh lễ đơn sơ và đầy ý nghĩa. Không tiệc tùng linh đình, không thiệp vàng mời mọc, chỉ thông báo cho gia đình và một số anh em đồng môn đến tham dự thánh lễ tạ ơn và dùng bữa cơm thân mật. Trong thánh lễ, anh đã ca tụng, cảm tạ Thiên Chúa đã đi cùng anh trong suốt một phần tư thế kỷ qua. Học theo gương nhận lỗi và xin lỗi của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, anh cũng đã công khai xin lỗi cộng đoàn về những khiếm khuyết, những sai phạm mà anh đã vô tình hay cố ý gây ra trong thời gian qua. Anh thừa nhận những yếu đuối nhân loại của mình và cầu xin mọi người tiếp tục cầu Chúa giúp anh tiếp bước theo chân thầy mình. Nghe đâu anh đã được Đức Giám Mục sai đi tu nghiệp thời gian ngắn và đã được nhà nước chấp thuận. Chúc mừng anh và mong anh gặt thêm nhiều kiến thức mới, về quê hương phục vụ công đoàn tốt hơn...
Anh ấy... Anh ấy, bạn tôi, lập gia đình cũng vào giữa năm 1976. Khi thời cuộc biến chuyển, anh ngậm ngùi rời đại chủng viện, giã từ áo chùng thâm vì không thể chờ đợi và tiếp tục ơn gọi do lý lịch oan nghiệt của bố anh. Trong những năm còn ở tiểu chủng viện, anh là một học sinh giỏi, xuất sắc về âm nhạc: hòa âm và sáng tác. Anh đã từng viết những bài hát sinh hoạt hội đoàn, quay ronéo những bài học giáo lý để chúng tôi có tài liệu hướng dẫn thiếu nhi. Anh luôn sống hòa đồng, không làm phật ý ai và đôi khi làm chúng tôi phải phì cười vì tính hài hước kín đáo của anh. Anh thường hóa trang nhân vật hề nổi tiếng thế giới trong những hài kịch tự soạn và gương mặt của anh na ná gương mặt vua hề Charlot với chòm râu kiểu Ăng-lê của nhà quí tộc "Sir Charlot Chaplin", nên bị gán cho cái tên "Hân Charlot".
Rời nhà tu vào giai đoạn cả nước còn gặp nhiều khó khăn, bố phải đi học tập cải tạo, nhà cửa, ruộng vườn tài sản... bị cuốn theo dòng nước của thời cuộc. Là anh cả, anh giúp mẹ đưa các em về vùng kinh tế mới lập nghiệp. Anh đã cùng gia đình miệt mài lao động mưu sinh, vượt khó, để đi tới. Bất cứ trong môi trường nào, người ta cũng thấy được "vaccin Sao Biển" nơi anh. Anh đã làm chứng nhân của Đức Kitô mọi nơi mọi lúc, giữa những khó khăn nhất mà nhiều mục tử đích thực không làm được. Chính nơi đây anh đã nhận được cái "phần nửa" tốt nhất của cuộc đời. Anh đã gặp chị, cũng là một tu xuất bất đắc dĩ, cả hai nên vợ chồng cùng dấn thân trong sinh hoạt "tông đồ giáo dân"...
Bẳng đi một thời gian dài, không biết được gì về anh chị, chỉ nghe phong phanh, gia đình anh đã dọn về một huyện ven thành phố. Họ bon chen kiếm sống như mọi người, nhưng không quên gieo ánh sáng Tin mừng của Đức Kitô cho cộng đồng quanh mình. Cuộc sống của họ thăng trầm theo thời gian, lúc lên, khi xuống... Mãi đến năm 1997, chúng tôi mới có dịp gặp nhau trong lần gặp mặt anh em CSB. Trông anh có vẻ mập, cao hơn với nước da sạm nắng, mái tóc muối tiêu do những vất vả gian nan lăn lội kiếm sống cho gia đình. Gặp lại anh, vui mừng cái dáng Charlot của ngày nào hình như vẫn ẩn hiện nơi anh, chỉ khác là anh không còn khoác lốt Charlot được như ngày trước vì chiều dọc chiều ngang qúa khổ. Phần chị, hoàn toàn xa lạ đối với tôi vì là lần đầu gặp mặt. Tuy nhiên chúng tôi cũng dễ dàng làm thân với nhau bởi giữa chúng tôi có một mẫu số chung: những kẻ "ta ru".
Rồi tôi được nghe anh tâm sự về khoảng thời gian qua. Bố anh mất khi còn trong thời gian học tập. Các em của anh đã có gia đình, mỗi người đã có cuộc sống riêng. Phần mẹ anh, bà theo gia đình anh phiêu du từ nơi này qua nơi khác, nay đã gần 80, nhưng bà còn khoẻ và tỉnh táo, ngày ngày giúp anh chị trông nom nhà cửa, luôn tay, luôn chân làm những việc lặt vặt trong vườn. Nói sao cho xiết, sau những năm tháng dài gặp lại nhau, gần 25 năm còn gì! Con cái của anh chị đã trưởng thành. Cậu con đầu vừa tốt nghiệp, đang chờ xin việc. Cô gái thứ đang năm thứ hai trung cấp dược, cậu út đang học năm cuối cùng cấp 3. Gia đình anh tạm sống với quầy tạp hóa ở chợ. Thật đầm ấm, hạnh phúc!
Sau đó, có một dịp đến thăm anh cốt để biết nhà và tổ ấm của hai người. Chỗ ở đơn sơ nhưng không kém khang trang và sạch sẽ nhờ bàn tay sắp xếp của bà nội. Nhà có vườn thoáng mát, có hòn non bộ giữa hồ sen đầy thơ mộng. Chúng tôi nhâm nhi dĩa thịt chó với mấy xị rượu để thêm đậm đà câu chuyện ôn cố thấm mùi mắm tôm. Hôm đó chị phải mất một buổi chợ trưa để làm cỗ thiết đãi bạn bè. Chị có biệt tài nấu ăn, có lẽ khi còn ở nhà dòng chị có dịp học và đỗ đầu môn nữ công gia chánh. Món khổ qua nhồi thịt hấp cách thủy qua bàn tay điêu luyện của chị, vừa ngon, vừa ngọt đã làm mát dạ khách thăm và làm cho chúng tôi quên đi cái nóng của thời tiết và của chất men. Chúng tôi ôn lại những ngày tháng đã qua khi cùng nhau ngồi chung trong một phòng học, sống chung dưới một mái trường chủng viện; những năm tháng được đi "du học ở các tỉnh miền trung, cao nguyên để rồi chia tay nhau ở đại chủng viện. Gần 25 năm, tưởng chừng như không bao giờ gặp lại. Không ngờ, quả đất vẫn luôn xoay tròn. Mỗi người trong hoàn cảnh gia đình khác nhau, nhưng vẫn có cái gì đó giống nhau, cái mà hầu như tất cả các anh em "ta ru" đều có: nền đạo đức và gốc tu mà chủng viện đã đào tạo.
Cũng từ đó, chúng tôi thường xuyên liên lạc với nhau qua thư từ, điện thoại, thông tin về hoàn cảnh của các anh em khác, trong hoặc ngoài nước, báo cho nhau khi được tin về một bạn cùng lớp vừa mới tìm được. Rất muốn có một ngày hội tụ anh em cùng lớp để biết ai còn, ai mất, chia sẻ những kinh nghiệm đã trải qua. Nhưng điều này quá khó khăn, vì mỗi người một phương, kẻ ở tỉnh này, người ở tỉnh kia, có người ở nước ngoài, chắc không đủ điều kiện, nhưng biết đâu...
Hiện giờ anh ấy vẫn luôn hiện diện trong các buổi họp mặt thường niên của chúng tôi. Dù bận nhiều công việc anh vẫn luôn có mặt khi một gia đình anh em CSB có tang chế hoặc có niềm vui trọng đại. Anh luôn chia sẻ tinh thần và vật chất với bất cứ ai có hoàn cảnh khó khăn. Anh không dồi dào nhưng tùy khả năng anh đến với anh em với tất cả thiện chí của mình.
Vào đầu thiên niên kỷ thứ ba này, anh chị đã tổ chức mừng kỷ niệm 25 năm hôn phối. Thời gian như bóng câu bay, mới ngày nào, bây giờ đã hơn một phần tư thế kỷ rồi, anh em đã có dịp ngồi lại bên nhau chúc mừng, chia sẻ, cũng như tiếp tục cầu nguyện cho nhau. Đặc biệt trong dịp nầy anh chị đã tặng cho anh em mỗi người một tập bút ký ghi lại những ngày tháng vui buồn suốt 25 năm qua của gia đình. Đáng phục vì với công việc bề bộn mà anh cũng cố tìm giờ để viết lại những dòng chữ này, một món quà ý nghĩa và ấn tượng.
Bạn tôi... Bạn tôi, hai gương mặt, hai con người nhưng là một hình ảnh của người phục vụ vì nước trời. Là linh mục, anh biết cho đi tất cả chứ không muốn "vinh thân phì gia", luôn phục vụ chứ không muốn được phục vụ (Mt 20,28) và luôn sống đúng tinh thần khó nghèo. Là giáo dân, cựu chủng sinh, anh cộng tác với hàng giáo sĩ bằng vốn liếng khả năng mình đã thụ huấn, hy sinh chia thời giờ để làm việc tông đồ. Dĩ nhiên, là con người ai cũng có khuyết điểm riêng của mình. Cũng như trong cuộc sống trần gian, luôn có những tương phản: có âm có dương, có lồi có lõm, có tốt có xấu, có trắng có đen v.v... thì mỗi một con người cũng có những ưu và khuyết. Nhưng ở đây nhìn cuộc sống của bạn tôi, linh mục hay giáo dân, tôi thấy ưu nhiều hơn khuyết. Vẫn biết rằng "nhân vô thập toàn", nhưng bạn tôi đã dùng chính cuộc sống cụ thể của mình để phục vụ tha nhân. Tôi không dám đưa ra những mẫu người lí tưởng nhưng nhìn cách sống của bạn tôi, tôi cảm thấy có chút gì hi vọng và tin tưởng, bởi vì như cha già cố Jean Marie Thích đã nói: "Thăng giã Hội". Tất cả những gì đi lên đều hội tụ lại và điểm hội tụ đó há không phải là Đức Ki tô?
Hoàng Như (Bà Rịa)
|