Một thoáng bâng khuâng Nguyễn Lục Khoa 67
Tháng 11 ở xứ Nam Trung bộ này thời tiết bắt đầu chuyển mùa. Những cơn mưa tầm tã như được dịp trút những mảng nước giận dữ lên mảnh đất nghèo nàn đá sỏi này. Cây cỏ gầy đét sau một mùa nắng khắc nghiệt khô cằn, giờ oằn mình đón nhận những đòn mưa như một ân huệ nghiệt ngã. Không biết vì ngẫu nhiên hay chủ ý mà tháng 11 được chọn làm tháng Các Đẳng, để kính nhớ ông bà tổ tiên, hay còn gọi là tháng báo hiếu. Ở xứ này người ta có thói quen thăm viếng mộ, tu bổ mồ mả của những người thân vào tháng này. Năm tháng tha phương, cuộc sống hiện đại trong vòng quay cơm áo gạo tiền, mấy ai trong chúng ta còn nhớ đến truyền thống tốt đẹp này? Ngày 2.11 người đi thăm viếng nghĩa trang đông như trẫy hội. Từng đoàn người lũ lượt kéo về nơi an nghỉ cuối đời của những người một thời đã cùng họ chia sẻ những đắng cay lẫn ngọt bùi của cuộc sống.
Ở quê được cái là sống thì qui tụ thành làng mạc, chết chôn chung nghĩa trang, không phân biệt giàu nghèo, tăng tục. Sang thì phần mộ lên lầu lên gác, bần thì mả đất lè tè. Cuốn theo dòng người đi tảo mộ, từ mấy năm nay, năm nào cũng vậy, đốt ba nén nhang thơm đầu tiên cho ngôi mộ thầy, người thầy đã từng dạy chúng tôi, tuy chỉ có vỏn vẹn một niên khoá, đã để lại trong chúng tôi một khoảng rộng bao la của bầu trời mơ ước. Trong chúng ta có ai còn nhớ thầy không? Thầy dạy Việt văn Dzoanh Bảo.
Niên khoá 1968-69, Sao Biển có một sự cải cách lớn, đó là có một số thầy ở ngoài vào Sao Biển dạy học. Thầy dòng Giuse Dzoanh Bảo được phân công phụ trách bộ môn tiếng Việt các lớp 7, 6 và 5 - môn học trước đây do các cha giáo đảm nhận. Ông bà ta có câu: "Nhất thầy Tây, nhì thầy dòng" quả không sai. Thầy đã đem lại cho lớp chúng tôi một luồng sinh khí mới. Thầy đã đổi mới phương pháp giảng dạy. Thay vì thầy giảng trò nghe và ghi chép, giờ thì cả lớp được phân chia thành nhiều nhóm, chọn đề tài cùng nhau thảo luận nghiên cứu. Đến lượt nhóm nào thì nhóm đó đứng ra phụ trách thuyết trình như một diễn giả thực sự, đồng thời, chịu sự chất vấn của các nhóm khác. Nhờ phương pháp giáo dục này mà chúng tôi tiến bộ hẳn lên, ai cũng ham muốn học hỏi tìm tòi để được bằng anh bằng chị. Vô hình trung chúng tôi được thêm nhiều kiến thức, sự tự tin. Quả là một nghệ thuật tuyệt vời, mà sau này khi lớn lên chúng tôi mới nhận ra rằng thầy đã tạo điều kiện cho chúng tôi tiếp cận, làm quen với một nghệ thuật, nghệ thuật nói chuyện trước công chúng (phương pháp này cho mãi tới sau này người ta mới áp dụng.) Những điều mà thầy để lại cho lớp 67 chúng tôi không chỉ là những phương pháp sự phạm vượt thời gian, mà là động viên giúp đỡ chúng tôi khai sinh một tuyển tập. Thực tình mà nói ở vào lứa tuổi chúng tôi lúc bấy giờ, làm một tờ bích báo đã là một mơ ước lớn, chứ đừng nói chi đến tuyển tập. Thế mà đó là sự thật đấy các bạn. Đứa con đầu lòng mang tên Đặc san Xuân Trẻ đã ra đời trên những trang giấy pơ-luya trắng dày, được cắt xén hoàn chỉnh, đóng thành một tập, hình bìa vẽ bụi trúc xanh. Nội dung đầy đủ thơ, văn, truyện ngắn, tranh vui, vui cười, v.v. do các nhà văn SB67 sáng tác, sau lời phi lộ của thầy. Vài năm sau khi không còn học thầy nữa, chúng tôi tiếp tục ra một số nữa… rồi đi vào ký ức… Giờ đây, tuổi sắp về chiều, mái tóc đang chuyển mùa thu. Nhớ về thầy như một hoài niệm.
"Thôi mình về đi anh!" Tiếng gọi đã đưa tôi trở về thực tại. Xung quanh mọi người đã ra về. Nghĩa trang buồn hoàng hôn đang lãng vãng. Chỉ còn lại tiếng gió rít vi vu như thì thầm to nhỏ: thế hệ này nối tiếp thế hệ kia.
Nguyễn Lục Khoa 67
|