Kỷ niệm “anhphiếcmiê” Cao Kỳ Hương 64
Một trong nhiều kỷ niệm thời Sao Biển của tôi là làm “infirmier”(y công). Năm học lớp sixième, tôi đã từng “vào viện” đúng vào dịp Noel. Một mình thui thủi ở “phòng bệnh” rầu thúi ruột, trong lúc bạn bè nghỉ lễ Giáng Sinh chạy nhảy, hò hét ngoài sân chơi, hoặc đang tắm biển ở “lòng chảo” Bãi Dương, đang mò cua bắt ốc về nướng…, tôi đã thấu hiểu nỗi lòng của người bệnh. Vì thế, năm học lớp quatrième, tôi đi phụ tá cho “infirmier” Nguyễn Đức Khang và năm troisième thì nắm chìa khoá tủ thuốc “phòng bệnh”.
Thời đó, “phòng bệnh” là nơi cách ly, dành cho những ai đau ốm thực sự (và cả giả vờ) cần nghỉ ngơi. Không hiểu phòng bệnh có từ khi nào, và toạ lạc nơi nào ở SB. Chỉ nhớ năm tôi sixième (1966), nó là một phòng nhỏ nằm sát cạnh nhà cơm chung. Sau đó nó được dời sang khu chú lớn, nằm ở tầng trệt bên trái cầu thang lên phòng Cha Giáo Nédelec (cố Đề). Cứ lối đi giữa hai hàng thông tiến thẳng tới dãy nhà chú lớn là đến nơi. “Phòng bệnh” cũ trở thành phòng ăn riêng cho các Cha Giáo và cả các thầy giáo được mời từ ngoài Chủng viện vào (ngày nay gọi là Giáo sư thỉnh giảng). “Bác sĩ” phụ trách phòng bệnh lúc ở bên này là Cha Alexis Nguyễn Thạch Ngọc. Sau này ngài bàn giao lại cho Cố Đề. Công việc của “bác sĩ” là sáng sáng sau giờ điểm tâm, ghé vào bệnh xá khám bệnh cho chú nào cảm thấy đau ốm mỏi mệt. Còn “anhphiếcmiê” thì lăng xăng cặp ống nhiệt độ, hoặc đưa chai nước súc miệng cho các bệnh nhân. Cha Nédelec luôn rên rỉ vì các chú cứ đứng trong “courant d'air” ở hành lang, trong lớp học… Thế là sưng amygdale và ho hen, cảm lạnh. Phương thuốc duy nhất và công hiệu nhất của ngài là khò (súc) cổ họng. Tôi không nhớ đã thấy Cố Đề vạch mông chú nào ra chích thuốc hay chưa, nhưng chỉ nhớ toàn là thuốc uống. Ở Chủng viện, những bệnh thường gặp nhất là đau bụng, tiêu chảy (đã có Ganidan), nhức đầu, nóng sốt (có Aspirin), ho (có viên kẹo ho hình vuông, tôi quên mất tên thuốc). Nặng hơn thì cho nghỉ ở phòng bệnh vài ngày, cặp nhiệt độ và uống thuốc thường xuyên. Hết sốt thì cho ra. Một số “em” đến mùa thi lục cá nguyệt tưởng trốn vào phòng bệnh thì thoát nạn, nhưng đâu biết sẽ mất điểm, phải thi bù, có khi lưu lớp. Lợi bất cập hại! Thường gặp nhất là trốn buổi. Có rất nhiều mưu mẹo để “được” vô phòng bệnh: đắp ít nước nóng vào trán, hoặc chạy nhảy cho nóng người để khi trình diện bác sĩ sờ thấy nóng là được. Nếu cặp nhiệt độ thì lén hà hơi vào bầu thuỷ ngân. Có trường hợp ống đo nhiệt độ bị vỡ vì bệnh nhân hơ ngay trên ly nước sôi! Thế là bị la rầy, bị phạt!
Cho thuốc là việc của “bác sĩ”, còn công việc thường xuyên của infirmier là xử lí da liễu, nói nôm na là băng bó các vết thương cho các chú. Thử hỏi vào lứa tuổi ham chơi, lại chạy nhảy trên sân đất đỏ nện, hoặc tắm biển ở vùng san hô, sò hàu, có ai lại không một lần bị té trầy xước chân tay? Vì thế, lúc nào infirmier cũng có việc để làm. Công đoạn băng bó muôn đời như một ở SB: trước hết bôi “eau oxygénée” (nước oxy già) cho sủi bọt để chà rửa đất cát dính vào vết thương. Rồi bôi thuốc đỏ, hoặc cồn sát trùng và rắc thuốc bột hoặc thuốc mỡ tuỳ vết thương khô hoặc chảy nước mủ. Cuối cùng tuỳ chỗ to nhỏ mà đắp gạc (gaze) hoặc dán băng cá nhân. Bệnh nhân luôn nhăn nhó, xuýt xoa vì rát. Có người đập vào tay y công vì đau, nhất là khi rón rén gỡ thay băng cũ cho các “em” lông lá hơi rậm rạp. Cứ như rứt từng sợi, làm sao không đau cho được?
Y công được miễn các công tác khác như vệ sinh, rửa chén… Bù lại phải quét dọn phòng bệnh, và hằng tuần phải xử lí bệnh phẩm, tức đi đốt bông băng dơ bẩn, vỏ thuốc… Y công có một chìa khoá tủ thuốc, oai đấy chứ. Nhưng cũng mệt vì bất cứ khi nào bệnh nhân trầy xước đều có thể đến xin y công mở tủ để băng bó cho mình. Vào những ngày toàn dân đi trại, ngoài vật dụng cá nhân, y công còn mang theo những vật tư y tế mà bình thường hắn không được rờ tới: một số thuốc tây thông dụng, ống cặp nhiệt độ… và dĩ nhiên bông băng thuốc đỏ, kéo, pince… lỉnh kỉnh một túi đồ.
Nhưng mệt nhất là công tác phục vụ ẩm thực cho bệnh nhân. Trước hết phải hỏi mỗi bệnh nhân ăn được cháo hay cơm, thích ăn gì (trong giới hạn cho phép, ví dụ cháo thịt, cháo trắng, cháo cá, cháo đường…). Rồi vào báo sớm cho các dì nhà bếp. Đây cũng là một đặc ân vì các chú tuyệt đối không được héo lánh tới “khu” các xơ (lời của Cha Bề trên Nguyễn văn Nho, GM Nha Trang đã qua đời). Trước giờ cơm chung, y công tất tả vào bếp, bưng bê mâm thức ăn băng qua hai sân bóng chuyền và bóng rổ phục vụ tận nơi cho bệnh nhân, kể cả những bệnh giả! Nắng cũng như mưa, sáng lẫn trưa, tối! Gặp những ngày bệnh xá được mùa, y công phải đi hai, ba chuyến mới xong. Rồi sau đó còn bưng trả chén bát cho nhà bếp kịp rửa.
Năm lên troisième, tôi đã có phụ tá là Lưu Thanh Kỳ, nay đã làm cha sở ở Bình Phước. Anh này tận tuỵ với công việc, nhiệt tình, nhưng cương quyết hơn tôi. Anh ta từ chối những ca bệnh giả, mạnh tay chà xát những vết thương, chế giễu cách khôi hài những bệnh nhân hay rên rỉ… Một kỷ niệm đáng nhớ về Lưu Thanh Kỳ nhà ta là trong một lần đi trại, anh ta rảy ống cặp nhiệt mạnh tay quá nên nó tuột khỏi tay và rớt bể toang. Đành về nhận lỗi với Cố Đề.
Đó mới là một trong những tai nạn nghề nghiệp không tránh khỏi. Thường gặp hơn là đôi lúc quên báo cho nhà bếp các suất ăn của bệnh nhân. Bệnh nhân la ó, y công phải xin nhà bếp chia sẻ bớt phần ăn chung để đem sang cho bệnh xá. Hoặc cũng có lần bưng mâm cơm bị trợt chân vào vũng nước té lăn chiêng. May mà đó là những lúc bưng mâm trống về nhà bếp. Còn khi đi, để che nắng, trú mưa, cánh y công chúng tôi truyền cho nhau kinh nghiệm đội mâm lên đầu. Cơm canh đã được đậy kỹ, (hoặc không đậy gì thây kệ ), sợ gì nước mưa. Có thế mắt mới nhìn rõ đường đi nước bước khỏi vấp vào đá, vướng vào bụi cây, hoặc sa vào vũng nước ở hai sân chơi chú nhỏ. Khổ hơn nữa là bưng mâm cơm đi rồi lại bưng về nguyên vẹn, vì khi báo cơm thì bấy nhiêu suất, nhưng sau đó các bệnh nhân được ra viện, hoặc trúng bữa cơm canh dở quá, nên các bệnh nhân đồng lòng tuyệt thực, tẩy chay. Y công trả mâm cơm mà còn bị nhà bếp la té tát (lãnh thay cho bệnh nhân, nào ai biết!), nào là bày đặt chê ỏng chê eo, nào là phí của Đức Chúa Trời… Chỉ biết cười héo hắt, cải chính giúp cho bệnh nhân là đau cổ, nuốt không được v.v…
Tôi không nhớ mình đã sai sót gì với ai, và cũng không biết đã gánh vác trách nhiệm như thế nào mà cũng qua được hai năm. Vui buồn nghề nghiệp cũng chóng qua và chóng quên như tuổi thơ hồn nhiên vô tư . Viết những dòng kỷ niệm này tôi ước mong những ai từng là y công Sao Biển hãy bổ sung vào để làm giàu truyền thống y công của Chủng Viện. Hình như sau Lưu Thanh Kỳ là chú Trần Siêu Việt rất dễ thương? Còn sau đó?
Y công, một chức danh, một công tác đặc biệt trong Chủng Viện như phụ trách phòng thánh, giữ giờ, bắt kinh, đánh đàn nhà nguyện… dễ được mọi người biết đến, cũng oai oai một chút. Nhưng bác sĩ và y công ở SB đều không có bằng cấp, học vị, không lương, không ưu đãi gì hơn ai thế mà làm việc rất nhiệt tình, vui vẻ và hạnh phúc. Tôi vẫn tự hào mình đã từng là “anhphiếcmiê” ở SB.
Nha Trang tháng 6.2005
Cao Kỳ Hương 64
|