MAIN MENU
VỀ ÂN SƯ & BẠN BÈ
- Các ân sư trong những hộc ký ức
- Cảm nghĩ về các ân sư
- Cố Hồng thần tượng
- Nhớ Cố Hồng
- Gặp gỡ các Ân Sư MEP
- Lettre de mon jardin
- Bữa cơm Yêu Thương & Tri Ân
- Cha Alexis Nguyễn Thạch Ngọc
- Sư phụ âm nhạc
- Kể tiếp chuyện cha Láng
- Vị Thầy giám thị khả kính
- Đời Sao Biển - năm I
- Pourquoi ai-je quitté mon sacerdoce?
- Đường tôi đến Sao Biển
- Tôi làm chú nhỏ
- Anh ấy, bạn tôi
- Tình đầu chưa nguôi
- Hắn và tôi
- Cái va-li
- Tình ngay ý gian
- Những mẫu chuyện không quên
- Thằng Lẩu dự hội Bàn Ðào
- Hai khoảnh khắc không biết nói
- Một thời chú Tiểu
- Cu Đen
- Dại dột
- Thành Dzảnh
- Nhớ Phú Già
- “Le Nhaque”
- Hội ngộ Dana Point
- Kiếp “mặt sắt” ở xứ người
- Chỉ là giấc mơ
- Một thoáng bâng khuâng
- Sao Biển hỉ nộ ái ố
- Một kỷ niệm không đẹp
- Tổ trác thằng từ Đinh
- Chuyến đi xa đầu đời
- Những mảnh đời
- Một cõi quay về
- Những chuyện tình ở SB
- Cái “nong mạch”
- Kỷ niệm “anhphiếcmiê”
- Dấu kỷ niệm khó quên
- Một chút gì để nhớ
- Bệnh truyền nhiễm
- Một chuyến Mẽo du
- Đi thi
- CSB Biên Hoà tiễn cá
- Tâm tình sau hội ngộ
- Ét Bê Sờ Tai (SB style)
- Nicknames yêu dấu
- Mùa Chay nhớ bạn cũ
- Tản mạn về quá khứ vùng trời Sao Biển
- Cọp 72
- Một thời để nhớ
- Ký sự chuyến dự lễ mở tay
- Thư từ Nam bán cầu
- Nhớ mãi không quên
- Tản mạn về SB của tôi
- Trộm thuốc và hái dừa non
- Nhớ
- Ét Bê 72 phiêu lưu ký
- Dạo núi
- Thế mới là dân SB chứ!
- Sao Biển 66 hải ngoại
- Vĩnh biệt “thánh” Thành
- SB 67: số liệu và sự kiện
- Người đương thời
- Đi dạo
- Bắt trộm
- SB săn bắt trộm
- Thả trộm
- Kẹo và chú Sao Biển
- "Mình nhớ anh em quá!"
- Một chuyến đi
- Hoàng hôn trên biển
- Giáp mặt
- Giai điệu tri âm
- Miếng cơm cháy
- Những anh hùng sân banh SB
Dấu kỷ niệm khó quên
Nguyễn Đức Khang 63


1. Bóng đá Sao Biển
Có đọc thấy tên bác Tý đã viếng thăm trang web TTSB, tôi cảm thấy vui nhiều vì dần dà có nhiều anh em lưu luyến viếng thăm nơi họp mặt này.
Chắc chắn bác Tý chẳng nhớ tôi đâu. Có chăng thì bác nhớ và biết bác Nguyễn Bình An, bác Hồ Trí Thức, và bác Nguyễn Văn Thông, những bác lớn hơn và gần lớp của bác, chứ bọn con nít chúng tôi thì “kính nhi viễn chi”. Thời ấy mà bị các bác ấy biết thì chỉ có nước bị “dáy” thôi.
Nhưng tôi vẫn còn nhớ bác ấy. Bởi lẽ nhờ bác Tý, bác Son, bác Luận mà đội bóng Chủng Viện hầu như vô địch thời bấy giờ. Các đội bóng thời bấy giờ như Thánh Kinh Thần học viện, Bình Cang, và cả Sinh Trung, dù có mời tuyển thủ Sài Gòn ra đá giúp cũng thua đậm. Không biết bác Tý có còn nhớ những trận đấu ở sân Thanh Hải, bây giờ là Khu Nhà Máy Nước Ngọt Khánh Hoà?
Mà kể cũng lạ, các bác ấy không cao lắm, nếu không nói là lùn nữa (Luận lùn mà), vậy mà chạy nhanh và chơi với nhau rất “gắn bó”, nói theo từ ngữ bây giờ, có nghĩa là rất hợp “jeu”! Và trong Chủng Viện đâu có sân để tập với nhau thường ngày đâu, tôi muốn nói đến cái sân đầy gai yết hầu của Chủng Viện?
Có lần tôi nhớ cả Chủng Viện kéo quân lên Bình Cang đá banh trên đó nữa. Đi bộ qua Trại Cùi, rồi đường rầy xe lửa, qua Hầm lửa, qua Cầu Xe lửa, đi dọc theo đường trong, băng qua Chợ Mới mà lên tận Bình Cang. Toàn là đi bộ. Trên đó, gần nhà Cha Phong có một bãi cỏ trống, dân Bình Cang dùng làm sân đá banh. Tôi không nhớ lần ấy Thầy Phong đá bên đội nào.
Còn chuyện “chấm bỏ” thì chính bác Danh lớp tôi đã ghi hai chữ ấy lên bảng. Nhưng còn do lai vì đâu mà có sự xung khắc dẫn đến mạnh tay với nhau thì tôi không biết. Nhờ các bạn nhắc, tôi mới nhớ rằng tôi có nghe nói đến việc ấy. Nhưng nguyên nhân và nội vụ xảy ra như thế nào thì tôi không biết. Với lại, những chuyện không vui như thế, tôi hay quên mất. Sau này tôi có gặp Cha Bẩm một lần hồi Ngài còn làm Cha Xứ Ninh Hoà. Nhưng sau biến cố 75, Ngài mất tích mà không ai biết nội tình.
Đối với lớp huitième chúng tôi, hai cái tên Tý và Son luôn luôn đi đôi. Còn tên của Thầy “Xin” thì rất thân quen vì sau khi đi học ĐCV Xuân Bích Huế, Thầy Xin có trở lại dạy chúng tôi môn toán, kế tục nghề của Cố Lành.
Một chi tiết nhân việc bác Tý nhắc tới hình Đức Mẹ Sao Biển. Ít là năm 1963, chưa có Núi Đức Mẹ. Bức tượng Đức Mẹ Sao Biển, đang được để đứng trên một cái trụ vuông, cao chừng hơn đầu chúng tôi một chút, giữa sân trước, quay mặt vào Chủng Viện. Mỗi lần ngồi trong phòng học năm cinquième hay sixième mà nhớ nhà, nhìn về phía Dòng Kín, thì thấy ngay Đức Mẹ đang chắp tay, hiền từ, nghiêng đầu một chút, như muốn nói: “Thôi đừng lo ra nữa. Học đi con”.
Thời ấy chưa có thói quen ra trước tượng Mẹ đọc kinh tối thứ Bảy, mà chỉ có lần hạt chung vào chiều thứ Bảy trong nhà Nguyện, trước giờ Chầu. Sau đó có đọc kinh Cầu Đức Bà bằng tiếng Latanh. Tôi còn nhớ lõm bõm một vài câu như sau: “Mater Creatoris - Ora pro nobis. Mater Redemptoris ...Mater Boni Consilii .. Rosa mystica .. Turris Davidica ...” Thường chỉ có một ngườì xướng, và cả Nhà Nguyện đáp.
Nhân nhắc đến câu “Turris Davidica - Đức Bà như lầu đài David vậy” này, tôi kể hầu các bác một câu chuyện lý thú. Khoảng năm 76 , 77 có dịp lưu lạc xuống Vĩnh Long, rồi ghé Vĩnh Bình, một buổi sáng ra nhà thờ Vĩnh Bình xem lễ. Lễ xong dân chúng đọc kinh cầu Đức Bà này bằng tiếng Nôm, gọi là kinh Cầu Chữ. Tôi nghe lõm bõm như sau: “Quang Minh Thần Đẳng, Quang Lân thần đẳng...” Tới câu này thì tôi giật mình khi nghe đám con nít trong Nhà Thờ la to: “Đa vít địt lâu!” Chúa tôi! câu kinh là “Đavít địch lâu!” mà giọng miền Nam lai giọng Miên đọc thành... Mũi nào mà ngửi cho hết được?
Đến thời Cha Xuân Ly Băng hay trước đó thời Cha Lai, Cha Luận, các Ngài đề nghị việc làm Núi Đá Đức Mẹ và tạo thói quen lần chuỗi chung trước Đài Đức Mẹ này. Việc đi lấy đá san hô giao cho bác Hiển, và các người giúp việc. Và cũng chính các vị ấy xếp đá lên thành núi chung quanh cái trụ vuông. Tôi còn nhớ nhiều buổi đang ngồi trong lớp mà lo ra ngắm các vị ấy làm bên ngoài giữa trưa nắng cháy...
Sau khi Núi Đá Đức Mẹ hoàn thành, Chủng Viện bắt đầu có thói quen tốt lành đọc kinh chung mỗi tối thứ Bảy trước Núi Đá, nghe một vài phút suy niệm của Cha hướng dẫn, rồi đi nghỉ. Giấc ngủ êm đềm hơn.
Sau khi các bác Tý, Son, Luận, Kinh rời Chủng Viện, thì nền bóng đá có chiều đi xuống. Cho mãi tới sau này, khi lớp SB 62 nổi bật với những cái giò vàng như Trần Ngọc Ân, Đào Đức Kim, Hoàng Đình Huệ. Lại cũng toàn những anh thấp chiều cao. Lạ nhỉ, Maradonna cũng lùn.
Lạ nhỉ, nhắc đến bác Tý mà chỉ nhớ về hai việc: đá banh và Đài Đức Mẹ. Cả hai đều là nguồn vui cho chúng tôi. Một niềm vui thánh thiện, bất tận và niềm vui kia thì hả hê đầy tự hào điểm xuyết cho một thời thơ ấu vàng son.

2. Bác Nhị Bói và con chuột SB
Hôm nay tôi mời các bạn dừng lại đây một chút, để kể lan man những kỷ niệm không theo chủ đề, nhân đọc thấy bên mục "Bỏ dấu tiếng Việt", các niên trưởng Tý và Minh góp tiếng trong diễn đàn.
Mới vào Chủng Viện (1963), chúng tôi đã nghe các anh lớp trên ca tụng bác Minh rồi. Như một siêu sao của Sao Biển. Mà đáng nể hơn nữa, chính các Cố cũng rất quý mến. Với chúng tôi, bác Minh là thần tượng. Tôi chỉ nhớ rõ chi tiết ngày bác Minh, sau khi ra trường trở lại Chủng viện thăm các Cố, chúng tôi có đứng xa xa mà ngưỡng mộ thôi.
Bác Đỗ Vy Hạ và các bác khác ơi, không biết các bác có biết rằng bác Tống Viết Minh còn là nhạc sĩ nữa đấy. Ngày bác chuẩn bị đi Mỹ, tôi có gặp bác tại Hoà Nghĩa và biết chi tiết này. Bác Minh có tặng cho một tập Nhạc tuyển quay Roneo những bài bác Minh sáng tác. Nay kẻ hậu sinh yêu cầu bác Minh “post” nhạc lên để các em có thể sử dụng.
Về bác Nhị Bói, hai kỷ niệm thú vị còn đậm nét trong trí tôi. Một buổi trưa nắng gắt, sau giờ cơm trưa, chúng tôi đem quần áo đã phơi khô vào, đang xếp gọn lại, chuẩn bị mang lên phòng Ngủ cất. Có tiếng một anh nào đó la lên, tôi nhớ hình như là anh Trí: “Nó kia kìa!”. Mọi người nhìn theo tay chỉ lên nóc nhà chơi chú Trung. Một con chuột khá to đang chầm chậm bò trên đòn dông. Nó có vẻ hoảng sợ và lưỡng lự dường như không biết chạy về phía nào.
Bác Nhị Bói cũng thấy. Và lập tức tìm cách leo lên. Mà bác ấy leo giỏi thật. Thoắt một cái, đã đứng trên xà ngang. Nhưng để đuổi theo con chuột thì bác ấy phải men sang gian khác. Ban trưa gió nồm đã thổi vào mát rượi. Bác Nhị chỉ bận có cái quần đùi rộng ống. Chính tôi, cũng như mọi người đứng dưới, ai cũng thấy tỏ tường mọi sự. Thế là mọi người nhao nhao: “Nó kia kìa!”. Bác Nhị, hai tay giữ chặt lấy mái ngói, ngó dáo dác hỏi vọng xuống: “Đâu? đâu?”. Phải mất một lúc sau, khi nhận thấy mọi người cười rũ rượi, thì bác Nhị mới nhận ra sự “thiếu kín đáo” của mình. Cũng giống con chuột, có điều nhỏ hơn.
Một kỷ niệm khác cũng vui, nhưng hồi hộp. Cũng vào ban trưa, sau giờ cơm, nhiều anh em đang đem quần áo khô vào. Có một con rắn khá to từ sau nhà Vệ sinh, bò ngang sân bóng chuyền. Khi nghe tiếng la hoảng hốt: “Rắn! Rắn!”, mọi người chạy ùa tới làm thành một vòng tròn bao vây con rắn. Mà con rắn to thật. Như cái cán cuốc, và dài gần hai thước. Bị bao vây, nó hùng hổ ngẩng cao đầu tìm đường thoát thân. Chừng hai chục người chúng tôi bao vây nó, kẻ cầm đá, người cầm cây. Có anh kiếm được cả cái cuốc. Nhưng không ai đánh trúng được nó. Con rắn ngẩng đầu, mổ ngang mổ dọc như rắn hổ mang. Nó mổ phía nào, vòng vây chúng tôi dạt lùi phía đó. Những anh cầm đá to, ném thật mạnh, nhưng càng ném mạnh thì lại càng trật. Cuối cùng cả đám chúng tôi theo con rắn dồn nó ra bờ biển. Trưa nắng, cát bờ biển nóng như lò than. Con rắn bị bao vây phải bò trên cát nóng, nó càng hung dữ, mổ mạnh hơn để tìm đường thoát thân. Nó mổ về phía bác Nhị Bói. Hai tay cầm hai hòn đá to, bác vội lùi lại. Cát nóng lại bủn, nên bác ngã ngửa, banh càng. Con rắn thấy vậy, phóng nhanh về phía bác, mấy người chung quanh phải vội vàng lôi hai tay bác, kéo bác lùi ra xa, giúp đứng dậy. Chúng tôi hết hồn. Bác Nhị cũng hết hồn khi thấy mình suýt bị rắn mổ trúng. Cho đến bây giờ tôi còn nhớ rõ nét mặt bác tái đi vì hoảng hốt, vậy mà hai tay bác vẫn giữ chặt hai cục đá to, chưa kịp ném.
Dĩ nhiên khi chết rồi, con rắn còn bị bồi thêm một cục đá to của bác Nhị Bói.

3. Quy và... Rệp SB
Khi thi đậu vào Chủng Viện, các bác lớp trên chẳng hề cho biết là trong Chủng Viện có rệp, rất nhiều rệp.
Nói cho cùng chúng tôi đã quen sống với rệp từ nhỏ. Nhà chúng tôi, bất cứ khi nào phát giác ra có rệp trong giường, là bà cụ bắt phải mang hết chăn giường ra phơi nắng vài ngày liên tiếp. Giường thì tháo tung hết các san và song giường ra, đem xuống biển ngâm cả buổi sáng, chùi rửa tận đến các hóc, kẽ, rồi để ngay trên cát nóng mà phơi nắng cả ngày. Sau đó lại còn rắc thuốc DDT vào các kẽ. Mỗi năm vài bận như thế.
Sau tuần đầu tiên ở Chủng Viện, chúng tôi phát giác rệp bắt đầu lộng hành. Bốn góc trên trần mùng bắt đầu có những đốm đen và thỉnh thoảng giờ ngủ trưa, trước khi chìm vào giấc ngủ, mắt còn kịp thấy vài ba con dính chùm với nhau trong một góc. Các kẽ mùng, nơi mép vải may, ngày nào cũng bắt được vài con nằm ẩn trong đó. Con nào con nấy mập những máu. Có anh mang theo thuốc DDT vào rắc. Mùi thuốc nồng đến tận mấy giường chung quanh. Chỉ được mấy bữa đầu, rệp không chết vì thuốc, nhưng bò sang giường khác vì hôi quá. Sau môt tuần thì đâu lại vào đấy.
Ban đêm, nhất là những đêm nóng trời, khó ngủ, hơi người quyện với mùi mồ hôi bốc ra, mời gọi và quyến rũ lũ rệp đói. Nhiều lần mắt đã gà, nhưng tôi vẫn cảm thấy rệp tự do bò nôn nôn dưới lưng. Sáng hôm sau, ngồi học giờ Étude, lần tay vào lưng quần ta (thời đang mặc áo dài) chỗ nhăn lại vì giây thun quần, thế nào cũng bắt được một hai con.
Rệp cắn đau hơn kiến cắn và vết cắn lâu khỏi hơn. Thời ấy chúng tôi khoẻ như vâm, chẳng bao giờ bị bệnh truyền nhiễm do muỗi hay rệp cắn.
Nhưng dù sao Cha Quản Lý cũng phải lo lắng. Ban đầu chỉ mình nhà ngủ Chú Lớn được trang bị giường sắt. Thời 64, 65 giường sắt và nệm chưa có nhiều. Khó mua, mà lại đắt. Quân đội Đồng Minh chưa ào ạt vào VN. Chúng tôi còn phải nằm giường gỗ được đóng từ thời khai sinh Chủng Viện. Ngày tựu trường phải mang chiếu theo. Tấm chiếu cá nhân, rộng 8 tấc và dài thước tám, sau một lục cá nguyệt, thâm lên vì mồ hôi và hăng mùi rệp.
Vào mùa hè, cha Ngọc phải gom lá dừa khô chất thành đống to trong sân Basket Chú Nhỏ. Tôi còn nhớ bác Hiển và những người giúp việc nhà bếp khác khiêng cả cái chảo nấu cơm to, kê giữa sân, nấu nước thật sôi rồi luộc từng san giường, cho chết rệp và trứng. Sau đó phơi nắng cả tuần. Phải luộc như thế hai lần, cách nhau một tuần, thì mới hết rệp và trứng.
Khoảng 67, 68 thì Chủng Viện dùng toàn bộ giường sắt, có nệm. Nhưng chúng tôi vẫn trải chiếu trên nệm, thay vì drap. Nằm chiếu mát lưng và sạch hơn nằm drap.
Rệp thì chúng tôi ghét cay ghét đắng, nhưng quy thì chúng tôi lại cưng chiều.
Tôi không biết ai đã bày ra cái trò nuôi quy hay du nhập việc nuôi quy đầu tiên trong Chủng Viện, nhưng với tôi, con quy chả khác gì con mọt mà tôi thấy nhan nhản trong hũ gạo, và hũ bắp ở nhà. Con quy to bằng cái thân gọng kiếng thôi. Ngắn mình, thân dài chừng một ly. Có hai cánh cứng màu nâu sậm gần như là đen.
Bắt chước các bạn, tôi năn nỉ xin Nguyễn Văn Hoá, lớp tôi, được hai ba con. Ban đầu tôi dùng cái hộp diêm để nuôi. Không như Trần Bá Ninh. Bác ấy nuôi có vẻ nhà nghề lắm và mang tính... công nghệ. Cái hộp nhựa vuông vức, trong suốt, cao chừng đốt ngón tay, vốn là hộp thuốc Terramycin, của nhà thuốc Roussel. Anh em còn nhớ tên nhà thuốc này không nhỉ? Tại Nha Trang, đa số thuốc của hãng bào chế này được bán tại Đại Dược Phòng Nha Trang, đầu đường Phan Bội Châu, góc đường Sinh Trung.
Tôi nhìn cái hộp thuốc bằng nhựa trong ấy mà thèm thuồng. Thỉnh thoảng bác ấy ban trưa không ngủ, cứ nằm ngắm mấy con quy bò qua bò lại, đục thành hang trong miếng bánh mì khô. Bác ấy còn cẩn thận một cách nhà nghề, mua thêm một chỉ cam thảo. Thành ra, tuy phân nào cũng là phân, nhưng phân quy cuả bác Ninh's book thơm hơn phân của các “lò quy” khác. Thú vị hơn là khi quy đẻ trứng, thành giòi rồi thành con nhộng. Ban trưa, rán không ngủ để chờ xem lúc con nhộng lột xác biến thành quy. Nhưng chưa bao giờ tôi được toại nguyện.
Sau mùa hè năm 63, tôi cũng kiếm được một bình nuôi quy khá đẹp. Ông già mua cho một bình thuốc bổ Multi-Calcium. Thời ấy, thuốc này mới ra lò. Một bình 40 viên con nhộng dài. Ngậm thơm mùi kẹo cam và hăng hăng mùi sôcôla. Tuy đẹp nhưng không tiện lợi bằng cái hộp thuốc Terra của bác Ninh. Bình có nắp đậy quá kín. Phải đục lỗ cho quy thở. Vả lại thân bình hình tròn, đáy bình bằng nhựa dầy. Thành ra, nhìn từ ngoài vào, con quy tôi nuôi nó to và dị dạng. Trông có lúc như con rệp.
Ngày nào lễ Trọng, ăn bánh mì thay cơm, thế nào các nhà nuôi quy cũng để dành một miếng ruột, phơi khô lên, làm thức ăn cho quy.
Chưa có bác nào bán phân quy mà làm giầu được. Làm gì có đủ phân mà bán. Với lại anh nào cũng nuôi quy vì tò mò và để tiêu khiển cho qua những buổi trưa khó ngủ, cho nguôi ngoai cơn nhớ nhà.
Có anh, vì không phơi kỹ bánh mì, miếng bánh lên mốc lên meo trong hộp. Khi mở hộp quy giấu kỹ trong rương ra, mùi mốc xông lên nồng mũi. Đám quy thân yêu nằm ngửa cẳng, chết hàng loạt như đám kiến càng tháng Mười, lúc thiếu đồ ăn vào mùa gió bấc thổi.

4. Phòng Étude chú Nhỏ
Tại Chủng Viện, không gian mà chúng tôi hiện diện nhiều thời gian nhất là phòng Étude Chú Nhỏ. Ai vào Chủng Viện cũng phải từng sống đa số thời gian của mình ở đây. Gần 80 anh học bài làm bài chung trong phòng này. Đến giờ classe, các anh lớp Tám lại phải nhận phòng này làm phòng lớp.
Khi ngồi mơ mộng nghĩ về lại ngôi trường yêu dấu, luôn luôn trong đầu tôi thấy dáng thầy Giám thị ngồi trên bàn cao nhìn xuống. Năm 63, chưa bỏ chế độ Giám thị. Thầy Phong vẫn phải thường ngồi trên cao đó nhìn xuống, trong giờ Etude. Chỉ trong giờ nguyện gẫm, đọc sách Thiêng liêng, hay Huấn đức, thầy Giám thị mới xuống ngồi ở hàng ghế cuối, chỗ ở giữa, bên cạnh cửa ra vào cuối phòng.
Ngoài cửa chính cuối phòng này, còn hai cửa ra vào khác ở hai bên bảng. Bảng gồm hai tấm rộng màu xanh, chiếm hết bề rộng khoảng tường trước mặt mọi người, gián đoạn bằng cái cột ở giữa. Trên cột treo cái đồng hồ quả lắc Wesminster, cứ mười lăm phút đếm thời gian bằng khúc nhạc nghe thuộc lòng đến độ luôn vang trong đầu suốt 40 năm qua “Tính tình tinh tình!”. Mỗi chiều thứ Bảy hằng tuần, cuối giờ làm bài ban chiều, thầy Giám thị lên giây đồng hồ. Thầy phải vặn cả ba giây cót, một cái cho đồng hồ chạy, môt cái cho chuông đổ giờ và một cái cho điệu nhạc. Tuần nào thầy quên lên giây, sáng thứ Hai đồng hồ chỉ kêu xẹt xẹt mà không đủ sức gõ thành chuông.
Tấm bảng xanh lúc nào cũng được chùi sạch sẽ. Sau giờ classe lớp Tám, một anh luôn luôn có nhiệm vụ chùi sạch bảng. Chỉ vào giờ Etude mỗi sáng, cha Giáo, hoặc một anh có nhiệm vụ lên phòng Cha Giáo xin bài, ghi lên đó bài học cần cho từng ngày:
Classe de Huitième
Lundi, Le 28 Septembre 1963
Francais: Chapitre 10: Verbe Irregulier Troisième Groupe: Prendre
Nhưng điều mà tôi nhớ hơn hết là dọc hai bên tường, toàn là cửa số bằng kiếng, lúc nào cũng mở rộng, cánh mở ra ngoài, gài vào tường bằng những cái chốt sắt vặn đứng lên. Chấn song ngang được cố bằng hai thanh gỗ song song thẳng đứng gần nhau. Hai bức tường dọc không có trang trí gì khác ngoài hai bức hình vẽ.
Cho đến nay tôi vẫn nhớ rõ bức hình vẽ treo ở tường trong, phía sân chơi. Đó là bức hình Chúa Chiên Lành. Hình rất đơn sơ, nền trắng, chỉ có khuôn mặt Chúa Giêsu Mục tử, một khuôn mặt trẻ đẹp, hơi có vẻ tươi cười, bên dưới là lô nhô đàn cừu, không thấy nguyên con, chỉ thấy rõ một con quay đầu lại, gặm chút cỏ xanh... Các bạn nào rời Chủng Viện năm 75, không biết có còn nhớ tấm hình này không?
Bàn học là bàn thuộc loại pupitre, nghĩa là mặt bàn là một miếng ván hơi nghiêng. Giở mặt bàn lên, bên dưới là cái hộc chứa toàn bộ sách vở và bút mực của từng người. Đồ đạc trong hộc bàn này và cái valy trên phòng ngủ là tất cả gia sản mỗi người cho đời sống trong Chủng Viện. Đúng ra tôi phải nói “kiến thức thu lượm được từ sách trong hộc bàn” thì mới đúng, vì sách dùng từng năm là do các Cha Dòng MEP chu cấp cho Chủng Viện.
Phòng Etude này, ngoài việc dùng để học bài làm bài, chúng tôi còn ngồi đó để suy gẫm, đọc sách thiêng liêng, xét mình, nghe huấn đức, nghe giảng, và thỉnh thoảng là phòng hội chung để mọi người nghe rao điểm cuối semestre và chào đón ĐGM.
Có lần, và hình như là lần duy nhất chúng tôi chào đón Đức Giám Mục Marcello Piquet tại phòng học này.
Nghĩ về Sao Biển, luôn luôn tôi thấy tôi đang ngồi học giữa các bạn trong phòng này. Bên ngoài nắng Nha Trang đang rực rỡ, vàng óng, chói mắt vì hắt từ mặt biển vào. Chung quanh chỉ có tiếng chim sẻ ríu rít trên những ngọn dừa xiêm.
Ôi thời thơ ấu thanh bình, êm ả.

5. “Cái đầu chó gặm”
Sẽ là một thiếu sót nếu không nói về kỷ niệm hớt tóc trong Chủng Viện. Phòng hớt tóc là cái phòng nhỏ, đầu nhà chơi chú Trung. Trong đó có cái tủ để vài bộ tondeuses.
Tôi may mắn khi vào năm 1963, được Hoàng Huy Ngạn 62 nhắc nhở đi hớt tóc hàng tháng, và được chính bác Ngạn hớt tóc cho. Gia đình họ hàng bác chuyên nghề hớt tóc nên bác hớt thành thạo lắm. Nhiều người phải dặn trước cả hai ba tuần mới tới phiên mình.
Không có giờ dành riêng cho việc hớt tóc. Ai muốn hớt phải dùng giờ chơi. Bây giờ nghĩ lại, những bác chuyên hớt tóc cho anh em là những kẻ hy sinh nhiều lắm. Mà cũng phải nghĩ ngược lại. Nhờ Chủng Viện mà nhiều anh biết nghề hớt tóc. Anh nào ham chơi thể thao thì hầu như là không biết hớt tóc.
Có nhiều anh cũng muốn biết nghề, nên bỏ ra vài buổi, mỗi buổi vài phút để tập sự. Khốn khổ cho bọn lớp Tám chúng tôi. Luôn luôn là nạn nhân cho các bác tập sự.
Trong số các tondeuses của Chủng viện, chỉ có vài cái là ngon lành, có nghĩa là còn bén, dùng được. Những cái tông đơ tốt ấy, thì các tay chuyên môn hay giành mất, như bác Lộc. Tôi chỉ còn nhớ mỗi tên bác Lộc chuyên hớt tóc mà thôi. Còn những anh muốn tập sự phải dùng những cái tông đơ chỉ làm được có mỗi việc là “nghiến tóc” mà thôi.
Trời ạ, tay thợ đã kém, bóp tông đơ vài cái là đã mỏi rũ tay. Đường tông đơ đi ngoằn ngoèo trên đầu. Khi đẩy tông đơ thì quên bóp, mà khi bóp tông đơ thì quên đẩy. Tay cầm lược thì lớ quớ, vụng về. Thành thử ngồi cho những tay tập sự ấy hớt tóc mà nước mắt cứ ứa ra như nhớ nhà. Càng hớt càng sai, càng sai càng sửa. Sau mười lăm phút ngồi luyện tội, mình chẳng còn giống mình lúc trước. Đầu thì chỗ trắng chỗ đen, lỗ chỗ từng mảng không đều nhau. Các bạn gọi là “cái đầu chó gặm”. Phải ngồi lại, chờ những bác chuyên môn rành nghề sửa lại cho. Tôi nhớ bác Sơn Souris là một trong những bác ban đầu làm khổ nhiều cái đầu anh em.
Vài năm sau, có lần tôi can đảm hớt thử cho một vài cái đầu mấy chú lớp Tám, sau khi đã nhờ bác Thịnh lo liệu phần “tu bổ” nếu lỡ vụng về cắt sai. Nhưng chỉ dám thí nghiệm vài lần thôi. Sau vì ham chơi nên bỏ việc học tập...
Cho mãi đến gần bốn mươi năm sau, tôi mượn và giữ luôn cái tông đơ điện của nhà cô em, và hàng tháng lôi đầu hai thằng tiểu Sao Biển trong nhà ra để hớt, tiết kiệm được hai chục mỗi lần. Cháu còn nhỏ nên vui vẻ cho bố tập nghề.

Nguyễn Đức Khang 63