Tản mạn về quá khứ vùng trời Sao Biển Hồ Trí Thức 59
Tôi vào Septième với cái đầu không còn chút tóc, di tích của bệnh thương hàn cuối năm Huitième để lại, sức khoẻ thật yếu và người thì dĩ nhiên như cọng tăm tre, thế nhưng tôi vẫn thấy mình thâm niên và nghiêm trang hơn vì như đã nói trong bài trước, lớp Septième vẫn là lớp oai nhất, vì làm trưởng cả một nhà ngủ, những người lớp khác chỉ toàn là lính mới tò te.
Các chú lớn, chú trung thì có cái oai là lớn nhưng dù là Quatrième chỉ được hơn Cinquième cái chuyện thâm niên, chứ còn mọi sự việc khác thì hầu hết các lớp nhỏ hơn đã biết hết rồi, đôi khi còn ma mãnh hơn cả lớp đàn anh.
Còn Septième hay lớp Bảy thì tha hồ mà làm le với các chú tân binh Huitième, vì các chú này chưa biết gì hết, như những nai tơ ai nói sao nghe vậy, một dạ hai vâng. Vài chú Huitième có hơi hướng quen biết các đàn anh lớp lớn thì cũng chỉ biết chạy lẹ. Đi hỏi tý tin tức, kinh nghiệm thôi, rồi cũng về lại với thực tế là phải chấp nhận kiếp đàn em hạng bét trong môi trường chú nhỏ của mình.
Thực sự mà nói các chú Septième tha hồ làm oai, nhưng phải trừ chú Hồ Trí Thức ra, vì chú yếu ớt như cây tăm, đầu lại thêm cái bê rê lúc nào cũng đội để che một nửa cái đầu không tóc, một nửa kia thì thẳng như rễ tre. Con người như vậy thì ăn hiếp được ai, phải không các bạn?
Phái đoàn Ba Làng của chúng tôi năm nay cũng anh dũng, oai hùng đi tựu trường dưới sự hướng dẫn của hai bà mẹ (của tôi và của Nguyễn Bình An), cộng thêm một nhân vật mới là chị Sách của chú Hiệu (vào Huitième năm nay) tháp tùng khiêng vali đi dọc bờ biển tiến vào Chủng viện.
Một khuôn mặt mới xuất hiện.
Chúng tôi đã nghe đồn từ trước là Chủng viện sẽ tiếp nhận một khuôn mặt mới lạ, trẻ trung, đẹp trai: cha Nguyễn Hữu Ban, mới chịu chức, người gốc Phước Thiện, Bửu Sơn, Phan Rang. Đương nhiên là ngày đầu nhập học chúng tôi phải đi chào các cha, và tôi đã lấm lét ngắm kỹ vị giáo sư này hơn các vị khác.
Năm 1960, địa phận Nha Trang có được hai linh mục mới học Đại chủng viện Lurô (có người gọi là Đại chủng viện Cường Để, đúng hơn là ĐCV Thánh Giuse Sàigòn) là cha Nguyễn Hoàng Kim, gốc Đại Điền về làm phó xứ nhà thờ Chính Toà và cha Nguyễn Hữu Ban làm cha giáo người Việt Nam thứ ba của Tiểu chủng viện Nha Trang, sau cha Mai Khắc Cảnh và cha Nguyễn Quang Sách.
Cha Sách sinh năm 1923, cha Cảnh sinh 1919. Cha Ban sinh năm 1933, tính ra vào năm 1960, ngài mới 27 tuổi, là linh mục đầu tiên xuất thân từ Phan Rang, Ninh Thuận. Nghe đâu năm sau đó Phan Rang còn có thêm một cha nữa thuộc dòng Chúa Cứu Thế. Cho đến khi các cha Sùng, Láng, Thanh, Thượng chịu chức thì Phan Rang bắt đầu được mùa ơn thiên triệu.
Cha Ban còn có chiếc xe gắn máy hiệu Goebel mới tinh, ngồi lên trông rất oai, thời bấy giờ hiếm ai có. Ngài gần gũi với các chú, thường xuyên chơi bóng chuyền và chuyện trò với các thầy, các chú. Có lúc ngài cùng đi dạo chung. Vào năm 1960, có lẽ cha Ban cùng với cha Kim là những linh mục đầu tiên tôi thấy có mặt ở Hòn Chồng. Khi các chú đi dạo Hòn Chồng thì ngài chạy lên nhà thờ Chính toà chở cha Kim xuống nói chuyện chơi với các chú.
Tôi còn nhớ lúc đó các chú bu lại chung quanh hai cha, nghe các ngài nói chuyện rồi cùng cười vui vẻ khi thấy cha giáo của mình chọc quê cha Kim và còn doạ, nếu cha Kim không làm theo ý ngài thì sẽ cho đi bộ về nhà, khiến cha Kim phải năn nỉ. Vì là bạn thân, nên hai cha thường chọc ghẹo nhau cho các chú được dịp cười vui vẻ.
Thời bấy giờ chưa có lễ đồng tế, nên tôi phải vào Chủng viện giúp lễ các cha địa phận về Tiểu chủng viện cấm phòng vào mỗi dịp hè. Nhờ đó tôi thấy được cha Ban mang lựu đạn (giả) đặt dưới giường cha Kim vào giờ nghỉ trưa, khiến cha Kim hoảng hồn vừa chạy vừa la làng. Xong việc hai người ôm nhau cười khì khì, các cha đứng tuổi thì trố mắt nhìn vui vẻ, vì tất cả như sống lại thời thơ ấu sống chung ngày xưa.
Cuối năm, cha Ban lại đổi xe Goebel lấy xe Lambretta. Vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, đổi xe kiểu cha Ban thì chỉ có một, nghĩa là nhất thiên hạ. Tôi đã một lần được hân hạnh ngồi sau chiếc xe này về Phước Thiện xem thuốc lá khô của miền Rừng Lai, danh kêu thứ hai của xứ Phước Thiện.
Về chuyện xe cộ của các cha giáo Chủng viện
Lúc bấy giờ, cha Bề trên Jeanningros là người duy nhất có xe hơi loại deux cheveaux, còn gọi là xe con cóc, do ngài tự lái. Cha Lagrange và cha Sách thì đi xe mobylette màu xanh lơ. Cha Cảnh thì đi xe Goebel bình tròn ma`u den. Cha Mollard làm quản lý thì có chiếc xe máy màu đen, tôi không biết hiệu gì. Riêng cố Hồng thì vẫn nghèo khó với chiếc xe đạp cũ kỹ màu đen.
Các thầy giám thị
Giám thị chú nhỏ là thầy Trương Trãi, người gốc Kim Ngọc, hiện đang là cha xứ Ba Làng yêu quí của Hồ Trí Thức này. Sau các giai đoạn làm giám thị Chủng viện, ngài lên học ở Giáo hoàng học viện (GHHV), làm cha phó nhà thờ Chính toà cho cha chính Nguyễn Công Nghị, tiếp đến làm quản lý Toà giám mục cho Đức cha Thuận, tu nghiệp Tây Đức về Caritas để chuẩn bị làm giám đốc Caritas toàn quốc thì biến cố 30/4 làm thay đổi cả chương trình, nên bây giờ ngài là cha xứ Ba Làng, quê tôi. Khi tôi được lên học ở GHHV thì ngài vẫn còn làm thầy với nếp sống đơn sơ, khiêm nhượng, yên lặng. Hầu hết ai cũng nhận ra được cái tinh thần nghèo khó của ngài. Mỗi khi gặp đức ông Lê Xuân Thượng, chúng tôi đều nhắc tới cha Trương Trãi. Đức ông Thượng thường nhắc đến hai điểm nổi bật của cha Trãi: thứ nhất là lúc còn học ở Providence Huế, Trương Trãi rất xuất sắc về toán; thứ hai là tinh thần thẳng thắn, rõ ràng. Theo lời Đức ông Thượng thì Trương Trãi có tính thẳng thắn như toán học được biểu lộ qua mái tóc carré lúc nào cũng thẳng bằng.
Thầy giám thị chú lớn có tên là Trần Hùng Chốn, gốc Cây Vông, lớp trên cả Đức ông Thượng. Nghe đâu thầy Cho^’n na`y cũng hay bị bệnh, nên không biết được thầy ở lớp nào. Thầy Chốn rất hiền, hay bị các chú chọc ghẹo, có khi các chú còn gọi thầy là “le renard de la queue coupée”. Sở dĩ các chú gọi như vậy vì trong các bài học tiếng Pháp lúc đó hay có chuyện con chồn. Nghe đâu thầy Chốn sau này chọn dòng ông thánh “Bonaven-Tura”, đã có gia đình, hiện đang an cư lạc nghiệp tại Hà Dừa, Khánh Hoà.
Tôi không nhắc đến chú trung vì lúc bấy giờ chỉ có khối chú lớn (6ème, 5ème và 4ème) và chú nhỏ (7ème và 8ème). Có hai nhà ngủ, một nhà ngủ nằm phía trên nhà cơm và nhà bếp (hướng Tây) và một nhà ngủ (hướng Đông) trước kia là nhà nguyện.
Năm 60, lớp quatrième là lớp lớn nhất TCV Nha Trang. Anh Nguyễn Văn Hoà lên troisième được theo anh em Phanxicô học ở Thủ Đức, gần trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Anh Nguyễn Văn Chung, Chợ Mới, người đứng đầu lớp 4ème cũng là người học giỏi nhất. Lớp này còn có các anh Hoan, Hoàng, Kinh, Tiên, Lộc, Luận, Nước, Tạc, Thẻ, Thể, Tốt, Truyền.
Lớp này phần lớn là do hai cha Mollard và Clause dạy các môn chính. Nếu không lầm thì khi cha Mollard bị bệnh, Chủng viện phải nhờ thầy Nguyễn Thế Thoại vào dạy Latin. Thầy Thoại người Huế là giáo dân đầu tiên dạy TCV mà tôi biết được. Sau này thì tôi biết rõ thầy Thoại hơn vì con của thầy là cha Nguyễn Thế Minh, S.J. , lớp tiên khởi của GHHV, thuộc địa phận Huế, sau này nhập dòng Tên, nhà ở Cù Lao Vĩnh Phước. Dịp hè thầy Minh thường lái vespa lên Ba Làng chơi với anh lớn tôi là Hồ Ngọc Thịnh cũng đang học ở GHHV. Trong các cha thừa sai thuộc MEP, thì cha Mollard luôn được xem là người giỏi và có tài. Khi Nha Trang còn thuộc địa phận Qui Nhơn thì nghe đâu cha Mollard đã có lúc làm cha Tổng đại diện.
Chủng viện thường bắt đầu năm học mới bằng những ngày cấm phòng. Nhưng cảm ơn Chúa là cấm phòng năm nay không buồn như những năm trước mà các chú được cười vui rất nhiều, vì người giảng phòng là cha Gagnon, dòng Chúa cứu thế, tên Việt là Tâm Ngọc, từ Đà Lạt xuống. Chủ đề giảng là: “Mình ơi, nghĩ mình mình lại nên thương nỗi mình”. Ngài giảng tiếu lâm, thú vị nên không có chú nhỏ nào phải khóc và nhớ nhà như những năm trước. Một lần nữa, tạ ơn Chúa!
Sau này tìm hiểu thêm, tôi biết ngài phụ trách một trung tâm cấm phòng ở Đà Lạt, thường xuyên đi giảng ở khắp nơi. Và chủ đề trên thuộc phần chuyên môn của ngài. Cấm phòng xong và bắt đầu học được vài ngày thì cha Bề trên lần lượt gọi chú Thục và Thức vào phòng ngài. Tôi không hiểu lý do gì, nhưng đến phiên tôi vào gặp cha Bề trên xong thì biết được rằng chú Đoàn Sĩ Thục được lệnh dọn vali qua phòng ngủ chú lớn, nhận sách vở của lớp sixième vì được nhảy lớp. Phần tôi thì cha Bề trên nói: Đáng ra cũng được nhảy lớp, nhưng vì sức khoẻ quá yếu, tuổi lại nhỏ, nên tiếp tục học septième, đừng buồn. Tôi chẳng buồn tý nào mà luôn cám ơn Chúa đã cho sống sót được là may rồi và không biết lúc nào Chúa mới cho mọc thêm được tý tóc và sức khỏe được khả quan hơn.
Năm này Chủng viện tiếp nhận ba chủng sinh người Thượng do Đức cha Paul Seitz địa phận Kontum gởi học lớp 8. Thú thật cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao lại gởi các chú này xuống Nha Trang học. Ba chú có tên là: Đin, Kêu, Pho. Mấy chú nhóm Tý, Son… ngộ nghĩnh, sống động lớp 6ème tặng liền cho cái tên vô tiền khoáng hậu là: Dịt Kêu To. Ba anh này thì tuổi đã lớn so với các bạn cùng lớp, nhưng hiền lành, chịu khó, nhất là chú Kêu. Chú Đin thì có tài lặn dưới nước rất lâu. Có nhiều lần sau khi đi dạo về, lúc tắm biển, anh em đứng chung quanh chú Đin và anh Truyền lớp 4ème thi lặn lâu dưới nước. Phần thắng luôn thuộc về chú Đin. Chú Pho có vẻ đẹp trai hơn, lại có hàm răng vàng, vì vậy mà trên đường đi dạo chú Pho đã quen một cô bán quán tên Hoa ở xứ Thanh Hải. Chuyện tình lâm ly của hai người được nhiều chú biết và thêu dệt thành huyền thoại.
Năm tôi học 3ème, gần đến ngày thi Brevet thì các chú Kontum to lớn gồng gánh bước vào chủng viện. Hỏi ra mới biết năm trước các chú Kontum thi BEPC ở Sài Gòn, năm nay xin thi ở Nha Trang cùng với chúng tôi. Lạy Chúa tôi, các cuốn sách về Sciences naturelles, Histoire, Géographie họ thuộc lòng từng chữ. Họ đến gần chúng tôi để cùng học chung. Nhưng cá nhân tôi thì phải chạy làng, vì tôi không thể học thuộc lòng “mot à mot” như các chú Kontum được. Vả lại, tôi vẫn thường nghĩ chỉ cần hai môn Français và toán là gần đủ điểm để đậu rồi, hơi đâu mà nhâm nhi thuộc lòng môn phụ cho mệt đầu, mệt óc, tổn thọ. Họ hỏi gì thì tôi bảo biết đại khái. Anh em Sao Biển hỏi họ điều gì thì họ đọc vanh vách cả bài. Năm đó anh em Kontum đậu gần hết, va` thật đặc biệt, Chúa thương năm đó lớp tôi là lớp đầu tiên của Chủng viện Sao Biển đậu BEPC 100% và lại có được vài anh em đậu cao. Thành tích này được ghi vào hồ sơ của Hội thừa sai Paris (MEP). Tôi đã có dịp đọc được những báo cáo này. Các bạn cùng lớp tôi Đại, Đức, Điệp, Hải, Hoa, Khoa, Khanh, Ngân, Nhị, Tính, Trung… có còn nhớ không?
Năm 1967, học ở Adran, lớp terminale cua Nhatrang chia làm hai ban Philo va Sciences Experimentales. Một lần nữa Chúa lại thương cho đậu Bac 100% với Khanh, Khoa, Hoa, Nhị, Thức ban Sciences Experimentales và Điệp, Đại, Đức, Tính, Trung ban Philo. Cha Trần Sơn Bích , vị Bề trên theo lệnh Đức cha Thuận hướng dẫn chúng tôi ở trong Viện Đại học Đà Lạt và học ở Adran, rất tự hào về lớp chúng tôi. Trước đó, lớp Đức cha Nho học ở Providence Huế, lớp cha Thạnh, Thượng học ở Taberd Sài Gòn, hay lớp các anh Thành, Xin, Phi, Thục thì học ở Nha Trang chỉ theo một ban Sciences Expérimentales mà thôi.
Niên khoá 60-61,chương trình lớp 7ème có vẻ là chương trình Pháp hơn ở lớp 8ème, nghĩa là môn gì cũng học bằng tiếng Pháp, trừ môn Việt văn. Theo lệ thường thì thầy giám thị chú lớn phụ trách môn Việt văn này. So với bên Collège Français de Nhatrang thì đây là một lớp 7ème spéciale học rất nặng về Français để chuyển qua chương trình Pháp 100%. Cha Bề trên Jeanningros dạy Pháp văn với cuốn Initiation Française bìa màu đỏ, rất dày. Cha Sách dạy toán. Lên 7ème thì lãnh sách nhiều hơn, và hầu hết là sách tiếng Pháp. Tôi cảm thấy thích thú, lấy oai với các chú lớp 8ème.
Thật sự mà nói, chuyện lãnh sách đầu năm là một khích lệ với tôi vi` tôi không nhìn sách mình lãnh mà nhìn sách của các anh lớp trên: sao mà nhiều, mà dày thế!... tự hỏi đến bao giờ mình mới được lãnh như vậy. Nhờ thế mà tôi lại càng cố gắng để được lãnh sách nhiều hơn. Nói vậy thôi, chứ thực tình, tôi có chăm gì đâu, hằng tháng, nếu không nhờ điểm bài học, bài làm thì tôi chỉ được mention “médiocre” mà thôi, vì điểm chuyên cần của tôi bao giờ cũng ở hạng chót.
Thời đó hàng tháng các chú tập trung tại phòng chú nhỏ để cha Bề trên thông báo công khai điểm của từng chú, có bảng danh dự ghi tên các chú của mỗi lớp trước hành lang chính của trường.
Điểm hàng tháng có 5 môn: bài học, bài làm, chuyên cần, hạnh kiểm và đạo đức. Điểm tuyệt đối là 100=5x20. Hạng danh dự là 80+ được mention bien, và 70+ mention assez bien. Sau do’ 60+ = Satisfaisant, 50+ = Passable, 40+ = mal… Mới đây, khi nói chuyện với ông bạn Thục, cả hai đứa tôi đều không hiểu sao lại có 3 loại điểm: chuyên cần, hạnh kiểm, đạo đức như vậy. Có lẽ chỉ cần một là đủ rồi, cùng lắm là hai.
Lên lớp 7ème là tập làm leader hướng dẫn lớp 8ème xướng kinh, đi dạo… Và dĩ nhiên là sau giờ étude thì ôm sách qua phòng bên cạnh để nghe giảng bài mới, chứ không đóng đô 100% trong phòng étude cả trong giờ làm bài, học bài, giờ học như lớp 8ème. Các chú lính mới 8ème có than phiền điều chi thì các đàn anh lên tiếng cắt nghĩa hoặc chê tụi bay nhỏ, không biết gì hết. Nói thì nói thế, tôi cũng biết nhiều chú 8ème còn cáo hơn cả chúng tôi.
Thầy giám thị Trãi rất nghiêm khắc, kỷ luật, lộn xộn là “donner le rotin” ngay lập tức. Nhiều lúc tôi thấy cũng tội nghiệp cho các chú 8ème thường xuyên bị ăn đòn của thầy Trãi. Tôi còn nhớ chú Hoàng gốc Vinh Phú, viết văn rất hay. Nhiều bài được thầy Trãi giới thiệu và đọc cho cả lớp chúng tôi nghe.
Gần cuối năm 7ème, thì cha Gervier (cố Lành) về Chủng viện, dạy Pháp văn lớp chúng tôi được vài ngày. Cố Gervier sinh ở Tour, gần Paris, nên giọng đọc rất Parisien đã làm cho đám học trò chúng tôi thích thú khi học tiếng Pháp. Có lẽ ai đã từng ở Sao Biển cũng đều biết là các bạn Lasan đi dạo thì tập nói tiếng Tây với nhau, trong khi bên anh em sao Biển thì không ai khuyến khích nói tiếng Pháp ngoài giờ học cả.
Nếu ai hỏi tôi trong năm 7ème, thích môn học nào nhất, thì xin trả lời là môn Giáo lý. Tôi còn nhớ cuốn Doctrine catholique có cái bìa nâu nâu, đen đen xấu xí… không hiểu sao tôi lại thích và say mê đọc trước cả những bài chưa học.
Tôi hiểu nhiều hơn về các Bí tích, các lạc phái Jeansenisme. Đặc biết là cuốn giáo lý này được dùng từ lớp 7ème cho đến 4ème. Thật tình mà nói, vốn liếng giáo lý của tôi có được chính từ cuốn sách này. Khi lên troisième, cha Nghị làm Bề trên và dạy giáo lý, chúng tôi dùng giáo lý tiếng Việt, tôi quên mất tên sách, nhưng tôi chỉ nhớ một điều là không có giá trị gì cho lắm. Tôi nói như vậy vì ngài dạy chung cả ba lớp 3ème, 2nde và 1ère. Ngài bắt học và nhớ từng chuyện như Đức Chúa Giêsu sáng dậy ra múc nước rửa mặt, tới giếng giúp Đức Mẹ làm bột bánh, giặt quần áo... thật vô ích cho việc học giáo lý năm đó. Năm sau cha Xuân Ly Băng dạy giáo lý thì bàn luận nhiều về các dụ ngôn trong Phúc âm rất thâm thuý, nhưng vấn đề bàn luận lại bị hạn chế vì cùng lúc bàn luận, học trò lại phải lo lắng học thuộc lòng từng chữ thơ giáo lý của ngài. Đôi khi có những bài thơ vè theo giọng Vinh đã khiến nhiều chú địa phương đọc trọ trẹ mãi không xong. Đến nay tôi còn nhớ vài câu thơ của ngài:
Loại mục súc đừng trao ban của Thánh
Ngọc trai kia chớ để trước mỏm heo,
Chúng dậm lên và có thể hiểm nghèo
Quay đầu lại, nhè các con mà cắn…
Hoặc mấy câu thơ gồm gồm mấy chữ đầu dễ nhớ thứ tự các thư của thánh Phaolô như: rô – cô – cô/ ga – ê – phi/ cô - thế - thế v.v… nghĩa là thư đầu tiên là thư Rôma, đến 2 thư Côrintô, rồi đến thư cho cộng đoàn Galata, Ephesô… và khi học tân ước ở GHHV, những câu thơ nhỏ này lại xuất hiện trong đầu tôi. Xin cám ơn cha Xuân Ly Băng.
Chúng tôi rất ngưỡng mộ tâm tính đạo đức của ngài. Mới đây ngài được Giáo hội tưởng thưởng tước vị Đức ông về những đóng góp của ngài cho nền thi ca Công giáo. Lần chót tôi gặp ngài đến nay cũng đã trên 35 năm, lúc đó ngài lên Đà Lạt dự lễ truyền chức phó tế của thầy Nguyễn Quốc Hải, con cùng linh mục nghĩa phụ với ngài là cha già Khiêm. Thầy trò gặp nhau thật dễ thương. Ngày hôm sau ngài gọi và giúi vào tay tôi một số tiền dặn mua đồ ăn đồ uống cùng vài chục hột vịt lộn về đãi anh em chủng sinh Nha Trang đang theo học ở Đà Lạt.
Khi ra Providence học giáo lý tôi tiếp thu được rất nhiều qua cách giảng dạy của cha Lefas là bắt học trò phải tự nổ lực suy nghĩ, tự trau giồi kiến thức cho chính mình về những vấn đề hiện tại liên quan đến cuộc đời và nhất là cách đối phó cho phải phép của con nhà đạo. Riêng tôi, tôi đã được học 4 năm ở GHHV rồi mới đi giúp xứ, có cơ hội học được nhiều thứ về giáo lý nên tôi ít bị ngỡ ngàng, hụt hẫng, khác với những anh em phải đi giúp xứ ngay sau khi tốt nghiệp tú tài khi đối diện với những tình huống khó khăn mà giáo dân thắc mắc hoặc đòi hỏi.
Khách chủng viện.
Đây cũng là một chuyện vui đối với các chú ở Tiểu chủng viện Sao Biển. Thường thì các chú có gia đình ở các tỉnh hay các thị trấn, giáo xứ gần thỉnh thoảng mới vào thăm con, cháu của mình. Còn các chú ở xa như Bình Tuy, Phan Thiết, Phan Rang thì hình như là con bà phước. Ngoài việc đi lại khó khăn và tốn kém, thì các bậc cha mẹ cũng biết là gởi con vào Chủng viện thì không còn gì phải lo. Rất ít bạn bè vào thăm các chú. Thường thì người nhà vào thăm các chú vào giờ étude sau khi ngủ dậy, trước khi đi dạo. Khi có khách, cha Bề trên gọi lên phòng khách. Phòng khách của Tiểu chủng viện Sao Biển không lớn lắm. Vào thời tôi học, phòng khách nhỏ bằng nửa phòng học các chú lớp 6ème, nằm gần phòng cha Bề trên.
Thời cha Jeanningros, Ngài có thói quen hay là hễ chú nào có người nhà vào thăm cho quà như kẹo, bánh, trái cây… ngài giữ lại hết. Đến giờ gouter trước khi đi dạo, ngài mang vào phòng cơm chia cho anh em cùng bàn, cùng mâm cùng ăn chung. Vậy là không có chuyện ăn lén lút trong phòng học hay phòng ngủ, đỡ tốn công các thầy giám thị nhắc nhở và tịch thu.
Chuyện học hành ở Chủng viện
Lần về Việt Nam mới đây, có dịp nói chuyện với người bạn lớp đàn em về việc học hành ngày xưa ở Tiểu chủng viện, chúng tôi cũng đã đặt ra những vấn đề để suy nghĩ chuyện xưa. Theo anh em chúng tôi, đáng lẽ tất cả những chú mới vào 8ème phải đạt được điểm học hành xuất sắc vì các chú đã học qua lớp nhất tiểu học, thậm chí có người đã học qua lớp đệ thất, đệ lục (rất ít người vừa học xong lớp nhì thì được thi ngay vào Chủng viện như tôi) mà chi? phải học lại chương trình lớp nhất thì quả dễ dàng. Vả lại các chú được thi vào Chủng viện đều là những thành phần ưu tú trong giáo xứ thì mới được cha sở giới thiệu đi thi. Mà phải là giỏi lắm mới đậu vào Tiểu chủng viện (đề thì trong chương trình lớp nhất, lớp nhì bậc tiểu học). Vậy mà có những chú khi vào lớp 8ème học lại chương trình toán, văn, sử, địa… lớp nhất lại còn không theo kịp. Người bạn lớp đàn em cũng đồng quan điểm với tôi, nhưng cũng đưa ra những biện luận nghe cũng hợp lý, đó là: đi tu có số. Nói theo kiểu tâm linh thì Chúa Thánh Linh đã che lấp sự khôn ngoan của chú ấy. Theo quan điểm nhà đạo thì “gọi nhiều mà chọn ít”.
Các cha giáo của tôi
Nhớ về Chủng viện nhiều thì cũng nhớ đến các các cha giáo và bạn bè nhiều.
Năm tới 2007 sẽ là kỷ niệm 50 năm giáo phận Nha Trang (1957-2007).
Đến năm 2008 là kỷ niệm 50 TCV Sao Biển (1958-2008).
Nơi được gọi là Chủng viện Sao Biển mà các chú ăn học thật tươi đẹp hồn nhiên bên hàng thông, hàng dừa một thời nay không còn nữa.
Hình ảnh các anh lớp lớn gánh nước tưới cây vào mỗi buổi chiều trong giờ công tác, gương tận tuỵ của các cha giáo nhất là cha quản lý Mollard trong giờ công tác làm sao có thể phai được trong tâm trí tôi.
Cha Ban đẹp trai, hào hoa ngày nào giờ đang nằm liệt giường. Mỗi khi có dịp gặp ngài tôi thường nhắc lại chuyện Đức cha Piquet chỉ định ngài hát bài Exultet ở nhà thờ Chính toà. Bầu khí thật cảm động khi ánh mắt ngài sáng lên bên cạnh những nụ cười đôn hậu cảm mến.
Khi ngài về Chủng viện thì không khí âm nhạc trong Chủng viện tiến thêm được một bước. Ngài hay mở nhạc qua loa gắn trên hàng thông cho các chú thưởng thức. Tôi còn nhớ những bài về Phục Sinh như: “Victoire, tu règneras / O Christ, Tu nous sauveras…” Mùa vọng và Noёl thì có bài “Pourquoi viens-Tu si tard. Mon Seigneur, pour me voir…”. Thỉnh thoảng cha Ban cũng mở mấy bản nhạc Việt Nam thịnh hành thời bấy giờ như “anh đi chiến dịch xa vời…” Chính ngài đã mời được nhạc sĩ Anh Linh tức Trần Đình Kế vào tập một số bài hát ba bốn bè như “Vó câu muôn dặm, một đoàn trai đi khi xuân tới…” cho các chú.
Kể đến đây thì tôi lại nhớ đến bộ ba cha Sách, Ban, Huệ đã hát bài thương khó “Passio Domini Jesu Christi” ở nhà thờ Chính toà trong những ngày tuần thánh năm đó thật trang nghiêm, thánh thót, gây cho tôi một ấn tượng khó quên. Sau này tôi đã nghe nhiều người hát “passio” mà chưa thấy ai qua được tiếng hát của các ngài.
Khuôn mặt đạo đức của cha Huệ lúc nào cũng toát lên tính tự trọng, đạo đức lẫn nghiêm nghị. Vòng tròn Tonsurat = ( Chúa là gia nghiệp đời con) được cắt thật kỹ trên mái tóc gon gàng chải brillantine bóng láng, thẳng tắp, toát lên nét nghiêm nghị, từ tốn, gương mẫu của một giáo sư Chủng viện. Khi tôi học ở Providence, thì ngài thỉnh thoảng biên thơ, khuyên chăm chỉ học hành. Bây giờ ngài cũng về hưu ở biệt thự Đặng Huy.
Đức ông Sách nay đã trên 80, đang nghỉ hưu tại biệt thự Đặng Huy. Sức khoẻ tuy đã co’ yếu, nhưng trí óc còn minh mẫn. Ngài vẫn thương xuyên ngồi bên bàn phím vi tính để dịch bài cho bản tin Vietcatholic. Mỗi lần có dịp về nước tôi đều đến thăm ngài để nghe ngài lý luận, nói chuyện cuộc đời, chuyện đạo mà chuyện nào tôi thấy cũng hay. Lần gặp mới đây, nghe ngài lý luận về việc dạy các thầy ở Da.i Chủng viện: “Làm Bề trên ĐCV lúc này rất khó, vì cha Bề trên và ban giáo sư không biết nhiều về hạnh kiểm của các thầy. Ngày xưa làm Bề trên ĐCV lại rất sướng, chỉ lo giáo dục các thầy thôi, vì bao nhiêu năm ở TCV, các chú chạy chơi trước mặt các cha giáo, thầy giám thị, tính tình tôt xấu đã hiện ra hết. Những chú còn lại để làm thầy đã được lựa chọn kỹ càng từ học lực đến hạnh kiểm đạo đức. Khi lên ĐCV thì các cha giáo cứ thế mà tiếp tục dạy cho đến ngày chịu chức, không phải băn khoăn chuyện chọn lầm”. Sau một chút đắn đo, ngài chỉ tôi nói tiếp: “… sướng nhất là làm Bề trên GHHV. Khi gởi các chú lên học như cỡ chú mầy, chú Thục... thì đều là những người xuất sắc về mọi mặt của các TCV. Tôi ngồi yên nghe ngài nói rồi hỏi đùa:
- Vậy ngày xưa con có xuất sắc không?
- Đương nhiên rồi, chú mầy, cha Đoàn Sĩ Thục là những đứa xuất sắc chứ còn gì nữa! Ngài vừa nói vừa cười.
- Sao lúc đó cha không nói cho con biết? Tôi hỏi lại.
Ngài tủm tỉm cưới với hàm răng móm mém:
- Trời ơi, lúc đó cha mà báo cho các chú biết thì các chú lại ỷ y, ba gai thêm thì lại càng chết.
Cha giáo Sách có một tính đặc biệt là ngài không đụng tay đến ai hết, nếu ai đụng vào ngài là ngài phủi tay và tránh đi liền. Tôi nghe các chú lớn kể chuyện này, nên có lần tôi giả bộ đụng vào tay ngài khi đi nộp bài và thấy đúng như vậy.
Cha giáo nữa mà tôi muốn nói đến trong bài này là cha Joseph Clause (cố Hồng). Tôi đã học với ngài rất nhiều từ kiến thức khoa học đến tinh thần đạo đức, lối sống khó nghèo, cách giảng dạy nhiệt tình muốn cho tất cả học trò đều làm được bài.
Các bài xét mình mà chúng tôi đọc trước những lần đi dạo do chính ngài soạn ra. Ngài là người chuyên viết và giảng về đường thiêng liêng, đạo đức. Tôi còn nhớ bài huấn đức của ngài về chức linh mục: “khi một người chịu chức linh mục là chịu chức để phục vụ cho cả địa phận, và địa phận có nhiệm vụ bảo đảm vật chất cũng như phần thiêng liêng cho người chịu chức”. Ngài còn nói ngài chưa thấy linh mục nào chết vì đói, dù ở trong giai đoạn khó khăn nhất. Khi đó tôi đang học 7ème, nghe được lời trên càng làm tôi phải suy nghĩ về thiên chức linh mục.
Một năm một lần, các cha, các chú trong Chủng viện phải chụp hình chung ngay trước trường hay trước nhà nguyện. Chú nào chú ấy cũng lo ăn mặc chỉnh tề, đầu tóc gọn gàng hơn những ngày thường làm tôi nhớ đến câu chót của bài xét mình về vấn đề ăn mặc: cây bông thiêng liêng với lời nói rằng tôi có luôn ăn mặc sạch sẽ, nghiêm chỉnh như đang chụp hình không?
Lúc tôi đang học thần học 1 ở GHHV thì được tin cố Hồng qua đời, tự nhiên tôi buồn buồn như thiếu một cái gì đó. Trước đó, tôi dự tính khi làm thầy sẽ đến thăm ngài một lần để nghe ngài khuyên bảo, thế là không còn dịp nào nữa. Tôi đã viết một bài thật dài về cố Hông trong tờ liên lạc Đại chủng sinh Nha Trang của cả hai miền Huế và Đà Lạt tháng đó.
Để kết bài này, tôi xin các bạn đã từng ăn học dưới mái trường Tiểu chủng viện Sao Biển nếu có dịp nên đến thăm và vấn an các cha giáo của chúng ta. Số đông đã qua đời, xin cầu cho các ngài.
Và tôi xin có một đề nghị nhỏ là chúng ta chọn một ngày trong năm để tỏ lòng biết ơn đến các xơ, các thầy, các cha đã từng giúp đỡ, dạy dỗ chúng ta.
Và sau đây, nhân dịp gần 50 năm củaChủng viện Sao Biển, xin gởi anh em nguyên văn vài dòng tiểu sử của cha Tổ phụ Joseph Clause theo tàl liệu của Hội MEP.
CLAUSE Joseph (1901-1971) né à Ham-sous-Varsberg (Moselle) le 23 septembre 1901, admis au Séminaire des M.-E. en 1922, ordonné prêtre le 6 juin 1925, partit pour la mission de Quinhon le 12 septembre 1926.
Après l’étude de la langue à Go-dai, il fut nommé, en 1930, professeur au grand séminaire, puis, en 1937, de-vint supérieur du petit séminaire de Làng-sông.
En 1946, il installa ce petit séminaire à Dinh-thuy ; en 1952, à l'évéché de Nhatrang ; puis, en 1958, au nouveau séminaire de Sao-biên.
En 1964, il quitta le petit séminaire et devint aumônier des Soeurs de Binh-cang. Il mourut, suite à un accident, le 18 novembre 1971
Xin cha tổ phụ cầu cho chúng ta.
Xin chúc quí anh em quen biết cũng như chưa quen biết của TCV Sao Biển đầy may mắn trong cuộc đời.
Mùa Phục Sinh 2006
Hồ Trí thức 59
|