MAIN MENU
VỀ ÂN SƯ & BẠN BÈ
- Các ân sư trong những hộc ký ức
- Cảm nghĩ về các ân sư
- Cố Hồng thần tượng
- Nhớ Cố Hồng
- Gặp gỡ các Ân Sư MEP
- Lettre de mon jardin
- Bữa cơm Yêu Thương & Tri Ân
- Cha Alexis Nguyễn Thạch Ngọc
- Sư phụ âm nhạc
- Kể tiếp chuyện cha Láng
- Vị Thầy giám thị khả kính
- Đời Sao Biển - năm I
- Pourquoi ai-je quitté mon sacerdoce?
- Đường tôi đến Sao Biển
- Tôi làm chú nhỏ
- Anh ấy, bạn tôi
- Tình đầu chưa nguôi
- Hắn và tôi
- Cái va-li
- Tình ngay ý gian
- Những mẫu chuyện không quên
- Thằng Lẩu dự hội Bàn Ðào
- Hai khoảnh khắc không biết nói
- Một thời chú Tiểu
- Cu Đen
- Dại dột
- Thành Dzảnh
- Nhớ Phú Già
- “Le Nhaque”
- Hội ngộ Dana Point
- Kiếp “mặt sắt” ở xứ người
- Chỉ là giấc mơ
- Một thoáng bâng khuâng
- Sao Biển hỉ nộ ái ố
- Một kỷ niệm không đẹp
- Tổ trác thằng từ Đinh
- Chuyến đi xa đầu đời
- Những mảnh đời
- Một cõi quay về
- Những chuyện tình ở SB
- Cái “nong mạch”
- Kỷ niệm “anhphiếcmiê”
- Dấu kỷ niệm khó quên
- Một chút gì để nhớ
- Bệnh truyền nhiễm
- Một chuyến Mẽo du
- Đi thi
- CSB Biên Hoà tiễn cá
- Tâm tình sau hội ngộ
- Ét Bê Sờ Tai (SB style)
- Nicknames yêu dấu
- Mùa Chay nhớ bạn cũ
- Tản mạn về quá khứ vùng trời Sao Biển
- Cọp 72
- Một thời để nhớ
- Ký sự chuyến dự lễ mở tay
- Thư từ Nam bán cầu
- Nhớ mãi không quên
- Tản mạn về SB của tôi
- Trộm thuốc và hái dừa non
- Nhớ
- Ét Bê 72 phiêu lưu ký
- Dạo núi
- Thế mới là dân SB chứ!
- Sao Biển 66 hải ngoại
- Vĩnh biệt “thánh” Thành
- SB 67: số liệu và sự kiện
- Người đương thời
- Đi dạo
- Bắt trộm
- SB săn bắt trộm
- Thả trộm
- Kẹo và chú Sao Biển
- "Mình nhớ anh em quá!"
- Một chuyến đi
- Hoàng hôn trên biển
- Giáp mặt
- Giai điệu tri âm
- Miếng cơm cháy
- Những anh hùng sân banh SB
Nhớ mãi không quên
Nguyễn Kim Ngân 59


Tôi là một trong số hai mươi chín chú vào học chủng viện Sao Biển tại Thanh Hải năm học 1959-1960. Tôi cũng là một trong số những bạn từng lăn lộn qua các mặt trận từ Sao biển đến Thiên Hựu, Adran, Xuân Bích và cuối cùng là số 6 Cường Để. Sau cùng Chúa chọn phần lớn anh em chúng tôi đi truyền giáo trong môi trường đời. Số các bạn tôi được đứng vào hàng ngũ các đấng tự hoạn vì Nước Trời chỉ còn lại có 6 đấng. Thấm thoát nhìn đi nhìn lại, chúng tôi chợt thấy mình đã trở thành U.60 rồi. Thời gian trôi qua thật quá nhanh. Dù cuộc đời tôi đầy ắp những biến cố vui buồn, lòng trí tôi lúc nào cũng in đậm những kỉ niệm của những năm tháng không thể nào quên dưới mái trường Sao Biển. Mỗi lần nhìn thấy bạn bè quanh mình họp mặt lớp này lớp nọ thời xa xưa, tôi lại nao nao nhớ đến anh em Sao Biển. Nhiều lúc tôi tự hỏi làm sao mình có thể gặp lại được bạn bè từ Khánh Hoà đến Bình Thuận đây. Tôi không biết hiện giờ tất cả các bạn ấy ra sao, ai còn ai mất, ở trong nước hay ra nước ngoài, vợ con mấy đứa, lên chức ông nội ông ngoại hay chưa. Thế rồi, tôi lại biết có trang web Tâm Tư Sao Biển. Tôi biết bao bồi hồi xúc động khi đọc những bài viết của các bạn từ trong nước đến hải ngoại. Cho dù các bạn từ khoá 62 trở về sau tôi chẳng quen mặt biết tên, nhưng những kỉ niệm mà các bạn gợi lại sao gần gũi quen thuộc quá, chúng hệt như những chuyện đã xảy ra tại gia đình mình trước lúc đi xa. Hình như trong tất cả các bài viết của các bạn có mùi hương đậm đà của chủng viện Sao Biển, giống như một thứ mùi hương ngào ngạt lưu luyến còn vương vấn trên bộ lông của những con cừu của Alphonse Daudet từ miền cỏ cao núi Anpơ khi quay về đồng bằng.

Xa rời chủng viện Sao Biển đã hơn bốn mươi năm trời với tuổi đời chồng chất, nhưng những năm tháng dưới mái trường ấy đã in sâu vào tâm khảm tôi, dù tôi có muốn quên cũng không thể nào làm được. Hàng ngàn cảm giác đầu tiên của tôi được khắc ghi vào thời gian khi tôi bước chân vào chủng viện. Lần đầu tiên rời xa gia đình bỏ lại bạn bè và những trò chơi trẻ con nơi quê nhà ở Hà Dừa, lần đầu tiên rời khỏi ngôi nhà ọp ẹp để bước vào mái trường đồ sộ, cao, dài và rộng mênh mông, lần đầu tiên có những bạn bè mới mẻ và xa lạ, lần đầu tiên tự mình làm lấy tất cả mọi việc mà không cần đến cha mẹ, anh chị, lần đầu tiên học thứ tiếng Pháp quá xa lạ… Có lẽ tôi đã có đến 1001 cái cảm giác đầu tiên xa lạ và ngỡ ngàng như thế này. Trong cuộc sống mưu sinh sau này, hằng ngày phải vật lộn với câu chữ tiếng Pháp qua cái nghề thợ dịch, lần nào bắt gặp những từ như petit séminaire, réfectoire, dortoir, chapelle, những hình ảnh hiện ra trong đầu tôi lại là những hình ảnh của chủng viện Sao Biển. Trăm lần như một. Thậm chí những từ như travail manuel, étude libre, promenade, huitième, septième, sixième..v.v, cũng khiến tôi nhớ đến những hình ảnh của Sao Biển. Với tôi chúng là những danh từ riêng đã thâm nhập vào bộ nhớ của tôi khi còn là một chú nhỏ từ quê lên tỉnh và không thứ gì có thể xoá chúng đi được.

Khoá 59 của chúng tôi gồm có 29 chú, lúc này tôi vẫn còn thuộc tên nhớ mặt từng người một. Tôi nhớ hồi đó chúng tôi thi nhau đọc vanh vách danh sách tên xếp theo thứ tự từ đầu đến cuối xem ai đọc nhanh mà không vấp. Không biết bác Hồ trí Thức có còn thuộc không. Này nhé: Cung, Diệu, Duyên, Gioang, Điệp, Hải, Hân, Hoa, Hoà, Hoàng, Khanh, Khoa, Liêm, Lộc, Mẫn, Minh, Nương, Ngân, Nhị, Tánh, Tính, Thái, Thiện, Thời, Thục, Thức, Trí, Trung, Vân. Hầu hết các bạn chúng tôi đều ở rải rác từ Dục Mỹ, Ninh Hoà đến tận Phan Thiết, Bình Tuy. Rồi cứ mỗi khi kết thúc năm học, lần lượt nhiều bạn trong lớp chúng tôi lại ngậm ngùi, nước mắt trào dâng rời xa chúng tôi mãi mãi và không còn quay về nhà mẹ, có lẽ các bạn ấy không còn hợp với cơm nhà Chúa nữa.

Cho đến lớp troa-dèm, chúng tôi chỉ còn lại có 12 chú, chúng tôi tạm tự gọi là 12 thánh tông đồ. Điều mà tôi nhớ mãi đó là lần đầu tiên 12 vị tông đồ chúng tôi đậu Bờ-rờ-vê cả 12 trong lịch sử Tiểu chủng viện. Mới đây, khi có dịp đọc tiểu sử cố Hirigoyen, tôi cảm thấy tự hào và hỉnh mũi quá xá khi đọc được dòng chữ này: Le succès de douze élèves de Troisième à l’examen officiel du brevet en programme francais était fort encourageant pour les élèves et le corps enseignant.” Douze élèves năm ấy chính là Hoa Trần (Bình Cang), Hải (Phan Thiết), Đăng Khoa, Trí Thức(Ba Làng), Mạnh Điệp (Khiết Tâm),Văn Khanh (Dục Mỹ), Văn Nhị (Hộ Diêm), Mai Tính (Tân Bình), Hoàng Trung (Bình Tuy) Vĩ Đại, Bá Đức cũng ở Bình Tuy và cuối cùng là tôi. Tôi nhớ hồi đó một không khí hân hoan vui sướng tràn ngập bao trùm khắp Chủng viện sau khi có kết quả báo về. Chúng tôi lại trải qua một đêm lâng lâng mất ngủ không khác gì tâm trạng của đàn gia súc chờ cho bầy chiên từ miền núi Anpơ trở về.

Những người bạn từ giã mái trường sớm có bạn Hoàng Diệu ở Lương Sơn. Bạn trắng trẻo, đẹp trai, môi đỏ tựa như Phan An tái thế. Bạn Hoà ở tận Ninh Hoà cũng có nước da trắng bóc, cao ráo, mũi cao như Tây lai. Tiếc là bạn đã đi vào lòng đất mẹ quá sớm. Bạn Hoàng, người Nha Trang, có biệt hiệu Hoàng Pin, vì bạn lúc nào cũng phải đeo pin nơi tai mới nghe người khác nói được. Hoàng Pin còn được gọi là Hoàng bốn mắt vì cặp kính của bạn dày cộm không thua gì cặp kính của Stephen Hawking. Nha Trang còn có bạn Thái, giống như bạn Đức, các bạn thường thêm cho một từ đi sau để làm biệt hiệu gọi tên. À, mà các bạn cũng đừng có lái tới lái lui à nghen. Thật đáng xấu hổ thẹn thuồng. Bình Cang có bạn Duyên cũng trắng trẻo và hay làm duyên như con gái tuổi trăng tròn, biệt danh của bạn là đỏ tai, vì mỗi lần lên trả bài, tai và mặt của bạn đỏ rần lên rồi bạn lại cà cà nghe đến phát mệt. Tấn Tài có bạn Cung, người cao to nhất lớp, mỗi lần đứng đọc sách bạn phải ẹo hông xuống cho thân mình thấp đi một chút chứ không muốn vươn lên trời cao như các cô đi thi hoa hậu đâu. Bạn Minh cũng người Tấn Tài có biệt danh Bà Vãi, miệng luôn huýt sáo. Cà Ðú có bạn Tánh, trên hai tai bạn trời sinh thêm những miếng thịt thừa, nên dù bạn có thay đổi thế nào theo năm tháng, tôi cũng sẽ nhận ra bạn , nếu sau này có gặp lại bạn. Đi vào cõi hư vô quá sớm có bạn Hân ở Đại Ðiền, bạn Liêm, biệt danh Bồ lu ở Bình Tuy. Bạn Mẫn ở Phan Thiết có biệt danh là mỏ gấu, bạn ca cải lương rất mùi mẫn không thua gì kép hát Thành Được. Bạn Nương, người xứ Gò Đèn ( từ Gò Đền đối với chúng tôi hơi bị xa lạ) là người có trí nhớ không thua gì Lê quý Đôn. Khi trả bài sử của thầy Chốn dài cả một trang giấy in, bạn đọc không thiếu một câu một chữ. Bái phục, bái phục. Năm lớp xếch-chèm, vào giờ ngủ trưa, bạn cột dây vào bọc hành lí thòng xuống lầu rồi âm thầm tót về Gò Ðèn và không bao giờ trở lại Chủng viện nữa. Tiếc cho Chủng viện mất đi một nhân tài.

Những bạn sớm chia tay rời bỏ Chủng viện còn có Gioang người Tân Bình, bạn có đôi mắt to như mắt Sophia Loren, bạn Lộc người Phan Thiết, bạn Thời người Cây Vông, bạn Thiện người Cà Đú, bạn này cũng có đôi mắt làm cho các người đẹp đi thi hoa hậu thế giới phải ghen tị. Bạn Vân người Thanh Hải có biệt hiệu Xã Xệ. Tôi có gặp bạn Vân năm 2005 ở San Bernadino, bạn lúc này đã là ông ngoại hạnh phúc sống trong một vùng thơ mộng của tiểu bang Cali.

Những người bạn của tôi được Chúa ưu ái cất nhắc lên hàng các đấng có Ngô mạnh Điệp, Hoàng văn Khanh, Nguyễn Nhị, Đoàn sĩ Thục, Mai Tính và một bạn đã từng sauter classe, đó là ngài Đinh Vĩ Đại. Ngô mạnh Điệp thuộc giáo xứ Khiết Tâm và có biệt danh Điệp lùn vì chiều cao có hơi khiêm tốn, bạn vừa đi vừa nhún như có lò xo gắn trong mình. Lời ca tiếng hát của bạn có hơi bị độc đáo, bản nhạc nào do bạn ca lên cũng đầy dẫy một trời bê-mol và đi-e. Bạn Nhị, biệt danh Nhị Đẹt, xuất thân từ giáo xứ Hộ Diêm. Mặc dù chiều cao body bạn có phần khiêm tốn, bù lại bạn rất đẹp trai và rất giỏi ping-pong. Cái thời lớp huýt-chèm chúng tôi mới vào còn ngơ ngác như những con nai vàng, đa số chúng tôi đều mê đánh ping-pong. Cái bàn ping-pong đủ tiêu chuẩn quốc tế thì mấy chú lớn dành độc quyền và chỉ bố thí cho chúng tôi cái bàn ping-pong cải tiến. Nói bàn ping-pong cho oai chứ thật ra đó là một cái bàn giặt cũ thô kệch còn sót lại từ thời Gia Long rụng rốn. Mặt bàn gồm hai miếng ván chênh vênh nghiêng vào chính giữa để lộ một cái rãnh chuột chạy qua cũng lọt, lưới chắn là một hàng gạch dàn thành một hàng ngang ở giữa, vậy mà chúng tôi lúc nào cũng háo hức nhanh chân chiếm lĩnh trận địa khi tiếng chuông kết thúc giờ học, giờ ăn vang lên. Mỗi ván là 5 trái, chú nào thua trước 5 trái phải bước ra nhường chỗ cho chú khác vào. Nhị Đẹt, Trí Thức và Hoa Trần là những cao thủ võ lâm chiếm giữ chiếc bàn ping-pong dai dẳng nhất.

Một trong hai nghệ sĩ của lớp chúng tôi là bạn Mai Tính và Hoàng Trung. Bạn Mai Tính người gốc Tân Bình. Lúc mới vào, bạn nói tiếng Việt léo nhéo, nhiều lúc tôi chỉ nghe lõm bõm tiếng được tiếng mất, nhất là khi bạn nói chuyện với những người bạn cùng quê. Bạn lúc nào cũng trầm tĩnh, từ tốn cứ như mọi việc là để ngày mai hẳn tính. Bạn có cú rơ-ve ping-pong tuyệt cú mèo nên các bạn tặng cho biệt danh là Dì Lẻo. Bạn thường bầu bạn với tiếng đàn tiếng sáo và đàn ác-mô-nhum trong nhà nguyện. Nghệ sĩ thứ hai của lớp chúng tôi đó là bạn Hoàng Trung, bạn to con và thường đội mũ rộng vành không khác gì các tài tử đóng phim Wét-ten của Mỹ, thế là các bạn tặng cho biệt danh cao bồi già. Bạn chơi ghi-ta rất cừ và sử dụng đàn ác-mô-ni-ca, ác-mô-nhum cũng không kém. Giờ này tôi vẫn còn nhớ bạn sôi nổi đàn cho các bạn khác hát bài Tết Trung Thu xách dù đi chơi. Sôi nổi và vui nhộn biết chừng nào. Cuộc đời của bạn và tôi có nhiều điểm chung: cùng là dân ta ru, rồi nhà giáo kiêm thợ dịch rồi giã từ nhà giáo, chỉ khác một điều là tôi thì dốt đàn dốt thơ còn bạn thì lúc nào tâm hồn thơ và nhạc cũng lai láng như biển Thái Bình. Trong khi tôi còn lưu luyến ở lại quê hương có chùm khế ngọt, thì bạn lại chọn miền Viễn Tây xa xôi của nước Mỹ để làm quê hương thứ hai. Không ngờ biệt danh của bạn thật ứng nghiệm như lời tiên tri đã ghi chép. Chuyến gặp gỡ khó quên của tôi với bạn Cao bồi già cùng với bạn Hoàng Diệu, và hai đàn anh Tống viết Minh và Ngọc Tý tại Garden Grove vào tháng 5 năm 2005 vẫn còn sống mãi trong lòng tôi, cám ơn các bạn về cuộc tiếp đón thật chu đáo và về món cua A-lát-ca của các bạn.

Một bạn khác cũng người Bình Tuy là bạn Đinh vĩ Ðại, bạn và bạn Bá Đức đã sauter classe từ khoá 60 qua khoá 59, vì hai bạn học quá super. Kỉ niệm mà tôi nhớ nhất về bạn Vĩ Đại, đó là cuộc chạm trán lạ lùng có một không hai trong lịch sử Chủng viện giữa bạn và cố Mô-la. Trong lúc cố đang lớn tiếng khiển trách các chú phụ trách phòng boutique, thình lình bạn hớt ha hớt hãi chạy tới chõ miệng vào phòng la thật to: “Qu’est-ce que c’est”. Bạn uốn miệng uốn lưỡi dùng âm s của tiếng Việt để phát âm cho từ ce và c’est khiến cho cố Mô-la giận quá rượt Vĩ Đại nhà ta vắt giò lên cổ mà chạy. Các bạn muốn biết cảm giác Vĩ Đại nhà ta lúc đó như thế nào, mời các bạn hãy liên hệ với ngài Vĩ Đại ở toà giám Phan Thiết thì rõ mọi đàng. Đinh vĩ Đại cũng là người luôn giữ chức trưởng đoàn đàm phán với cố Hồng mỗi khi cố giận chúng tôi rồi bỏ lớp lên phòng, khi chúng tôi phá rối trật tự trong lớp. Thật đáng xấu hổ thẹn thuồng. Bạn Bá Đức thì chọn một tiểu bang khỉ ho ò gáy của nước Mỹ để làm quê hương thứ hai của mình, cầu chúc cho bạn trở nên nhân chứng đức tin nơi những người dân da đỏ Minnesota.

Lớp tôi còn có một bạn sauter classe nữa, đó là bạn Đoàn sĩ Thục, ngài cùng quê với tôi và cùng được uốn nắn từ lò các xơ Gò Thị phục vụ tại Giáo xứ Hà Dừa. Vì học quá siêu năm lớp huýt-chèm, nên năm sau bạn nhảy qua lớp xít-dèm và đứng vào hàng ngũ của các bậc đàn anh khoá 58. Không những thế, bạn học môn nào cũng cừ và ở bất cứ môn nào bạn cũng không có đối thủ. Đối với chúng tôi, câu chữ tiếng Latinh lộn xộn hết chỗ nói, thường thường chủ ngữ bên đông, động từ bên tây, nhiều lúc chúng tôi phải vật lộn muốn bở hơi tai những bài văn của Ciceron, Tite-live, Pline già, Pline trẻ, thì Đoàn Sĩ Thục nhà ta chẳng nhọc công tốn sức bao nhiêu. Nếu không vì thời cuộc, theo tôi, bạn có thể là một khuôn mặt sáng giá của Giáo hội Việt Nam chứ không phải lưu lạc tận xứ căng-gu-ru. Có lẽ ý Chúa nhiệm mầu muốn cho bạn có nhiệm vụ loan truyền Tin Mừng từ đài Vê-ri-tas ở Manila đến tận hang cùng ngõ hẻm của lục địa Châu Á này.

Gần Tiểu chủng viện về phía đông có giáo xứ Ba Làng nằm sát biển. Nơi đây chúng tôi có ba bạn cùng lớp là Đăng Khoa, Trí Thức và Cao Trí. Bạn Trí nhỏ con, nước da đen như dân Phi Châu nên có biệt hiệu là Trí Africain. Trí Africain chơi ping-pong cũng có hạng. Bạn Đăng Khoa, một con người rất xông xáo, luôn luôn sống mình vì mọi người, nên sau này được anh em lạm phép viện hàn lâm Pháp đặt cho biệt hiệu là affaireur. Tôi đã từng đến nhà bạn ăn món gỏi cá sống lần đầu tiên kèm với rau đinh lăng chấm mắm nêm tuyệt cú mèo. Bạn còn sáng tác ra một món canh hơi độc đáo. Bữa cơm nào khô khan không có canh, thế là bạn rót nước lạnh vào bát rồi rót nước mắm vào trộn đều, thế là bạn đã có một món canh để chan cơm. Bạn nào không tin, cứ meo cho bạn ấy đang ở xứ căng-gu-ru thì biết. Bạn thứ ba là Hồ Trí Thức. Suýt một chút nữa, bác đã đứng vào hàng các đấng servus servorum như anh và em trai của bác. Ơn thiên triệu tuôn chảy xuống nhà bác thật lai láng như nước sông Ti-grơ và Ơ-phờ-rát. Lúc mới vào, bạn nhỏ con, thông minh, lanh lợi như chú Kim Đồng làm liên lạc rất tài tình. Khi cái lớp huýt-chèm vừa hình thành, khi chúng tôi còn ngu ngơ như những chú chim mới ra ràng, thì bạn đã dạn dĩ xông xáo như một hướng dẫn viên du lịch. Bạn cung cấp cho chúng tôi mọi thông tin, mọi xó xỉnh, từng đường đi nước bước trong cái mê cung Chủng viện. Hình như cuối năm, bạn bị một trận thương hàn nhớ đời đến nổi những sợi tóc lần lượt rủ nhau xa rời cái chỗ đội mũ của bạn. Bạn Thức cũng như tôi những người đã bỏ công sức đi tìm thời gian đã mất như Marcel Proust tại cái nôi đã chứng kiến cả một thời thơ ấu của chúng tôi, nhưng chúng tôi chẳng còn tìm lại được gì, có còn chăng chỉ là những tiếng sóng vỗ rì rào trong gió thoảng. Có lẽ chỉ còn một trời Sao Biển thơ mộng và đáng yêu trong con tim của từng người chúng tôi.

Nói đến anh em Ba Làng, chúng tôi còn có những kỉ niệm khó quên. Số là mỗi lần đi dạo qua bãi biển Ba Làng, lúc nào anh em chúng tôi cũng phải ngó trước nhìn sau, đầu óc căng thẳng, vì bãi biển lúc nào cũng bị gài mìn nổi và dày đặc không theo một chiến thuật chiến lược quân sự nào cả, hơn nữa sóng biển còn ùa cát vào nguỵ trang cho bãi mìn. Mỗi lần giẫm phải mìn, chúng tôi cứ nêu tên các anh em balangeois ra mà hành tội khiến anh em không dám hé miệng và im lặng như những con cừu người ta mang đi làm thịt.

Các bạn ra muộn còn có cu Hải. Biệt danh của bạn là Rượu nễ, vì từ nào có chữ “l” đứng đầu thì cu cậu đổi ra thành “n” hết. Bạn cũng nhỏ con, nhưng thông minh. Áo quần mặc dơ bạn dồn cả tuần lại đợi đến khi có mùi xú uế xông lên thì bạn mới ra tay thanh toán một lần cho tiện. Khoẻ re. Lúc nào bạn cũng thường trực trên mình chiếc áo dài đen mỹ a trơn, thậm chí ngay cả khi đánh ping-pong hoặc vô-lây. Do đó, cả hàng nút áo của bạn dần dần trốn mất nhường chỗ cho những dây nhợ hoặc cọng thép. Không hiểu sao các chú lớn lại thích trêu chọc cu cậu, mỗi lần bị trêu là cu Hải nhà ta sửng cồ lên rượt đuổi đánh mọi người đến mệt nhừ mới thôi. Khi đã thấm mệt, mặt mày tái le tái lét, hơi thở hổn hển, cu cậu nằm sải dài xuống nền xi măng, lồng ngực nâng lên xộp xuống dưới vạt áo dài mỹ a trơn trật qua một bên hông. Đúng nà mấy chú nớn nếu náo thiệt. Tôi vẫn còn nhớ một lần cu cậu nằm sải dài trên nền nhà, vừa thở hổn hển, vừa trả lời cố Jeanningros khi ngài đọc sách brơ-vi-e đi ngang qua chỗ cậu nằm. Cậu cứ tỉnh bơ trả lời những câu hỏi của cố coi như không có chuyện gì xảy ra.

Người bạn đã cởi áo chùng chọn con đường khác như tôi là bạn Hoa Trần. Hoa Trần đẹp trai, bay bướm, đầu tóc lúc nào cũng láng mượt, lúc nào cũng hào hoa phong nhã. Có lẽ vì mê núi rừng Tây nguyên nên bác rời bỏ Giáo hoàng học viện để làm nghề giáo sư Chủng viện một lúc và làm chủ tiệm bánh ngọt một thời để rồi sau cùng xin chọn mảnh đất lạnh giá Canada làm quê hương thứ hai. Sau bốn mươi năm, Hoa Trần vẫn hào hoa phong nhã như thuở nào. Bác vẫn luôn tha thiết hoà bình trên mặt đất, nên bác đang tham gia vào việc chế tạo xe tăng cho quân đội, vì si vis pacem, tiên vàn phải chuẩn bị chiến tranh. Đừng nghĩ bác hiếu chiến, tội nghiệp bác!

Trên đây là một vài nét về từng khuôn mặt của lớp tôi. Nếu ghi ra cho hết muôn vàn kỉ niệm của các bạn tôi và các bạn khoá 58, 60, 61, tôi e rằng cả trang web Tâm Tư Sao biển cũng không đủ dung lượng để chứa cho hết và các bạn Sao Biển ở khắp nơi trên thế giới này sẽ không có thì giờ mà ngủ sau những giờ lao động mệt nhọc vì miếng cơm manh áo. Tôi biết tôi không thể nào quên được những hình ảnh thân thương về mái trường Sao Biển trong tâm khảm của tôi. Quên làm sao được khi các bạn ấy cùng tôi trải qua những năm tháng đầu đời dưới mái trường ấy, ăn cùng một réfectoire, ngủ cùng một dortoir, học cùng một phòng étude, đọc chung những câu kinh, hít thở cùng một bầu không khí mằn mặn của biển, được ru ngủ bằng những tiếng sóng vỗ rì rào hoà vào tiếng hàng dương liễu vi vu và tiếng lá dừa xào xạc dưới chân bãi biển Hòn Chồng. Quên làm sao được những ngày cùng các bạn đi dạo ở Hòn Chồng, Tháp Bà, Núi Sạn, đèo Rù Rì, đá banh trên sân bóng dưới chân đồi Lasan, hái ớt trộm trên núi Đường Đệ. Quên làm sao được những giây phút để cho tâm trí đắm mình rong ruổi cùng với nàng dê của ông Sờ Găng trong cánh rừng đầy hoa thơm cỏ lạ qua bài giảng của cố Jeanningros để rồi khóc thương cho nàng khi bị chó sói ăn thịt lúc màn đêm buông xuống. Quên làm sao được những ngày lênh đênh trên tàu 602 ra Qui Nhơn, Đà Nẵng, thưởng thức những quả chuối khổng lồ ở trại phung Qui Hoà do các xơ chiêu đãi, lang thang vừa đi vừa gặm bánh patê chaud mới ra lò dưới chân cầu Tràng Tiền, len lỏi vào phố chợ Đông Ba để ăn bánh khoái và trái vả. Quên thế nào được hình ảnh cha giám đốc Chủng viện Hoan Thiện dẫn chúng tôi lên sân thượng để giới thiệu quán cơm Âm phủ, bánh bèo Núi Ngự trong những ngày ngài sắp về Nha Trang để thay Đức Cha Marcel Piquet. Quên thế nào được những người bạn thân thương của chúng tôi đã trải qua 30 ngày đêm dưới làn tên mũi đạn vào Tết Mậu thân 68 để rồi một người bạn phải nằm xuống vĩnh viễn tại cố đô xa xôi.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin gởi những dòng thô thiển này đến tất cả các bạn Sao Biển thân thương còn sống trên bất cứ quốc gia nào, xin dâng lên hương hồn các bạn đã sớm hưởng nhan thánh Chúa sau một cuộc đời tận tuỵ vì lí tưởng của mình những lời nguyện thiết tha. Xin vâng theo ý Cha dưới đất cũng như trên Trời.

Nguyễn kim Ngân SB59