Nhớ Nguyễn Trọng Vinh 71
Nhớ trường
Đọc Tâm Tư Sao Biển (TTSB) tôi thấy nỗi nhớ trường xưa của anh em Cựu Sao Biển (CSB) na ná như nhau. Chắc một điều ai đã đọc qua không ít thì nhiều cũng thấy có mình trong đó.
Sau biến cố Tháng 4/75 ít lâu, từ Sài Gòn về lại Nha Trang xin hồ sơ học bạ để học tiếp cấp III trường Saint Thomas Phú Nhuận, tôi có dịp thăm lại trường cũ. Lúc này Nhà nước đã lấy Tiểu chủng viện (TCV) làm trường Văn hoá Nghệ thuật Phú Khánh nên tôi sợ không dám vào (lúc này cái gì cũng sợ). Đứng từ xa, ngay cổng nhà thầy Nhạc – dạy Pháp văn lớp tôi năm 8è – nhìn vào một chặp rồi lủi thủi ra bến xe về lại Sài Gòn. Lủi thủi vì buồn và vì lúc đó đâu có tiền mà đi xe ôm.
Đến năm Cha Nguyễn Văn Nho được tấn phong Giám mục và anh Điện (69), Mai Xuân Vĩnh (73) được thụ phong Linh mục tôi mới thực sự hiên ngang thăm lại trường. Hôm đó Sài Gòn có Phước, Thiện, Tâm, Tiên đều lớp 70 và anh em khu vực Bình Tuy – Phan Thiết. Chúng tôi đi thăm hầu hết TCV. Khuôn viên TCV lúc này bị thu hẹp nhiều. Hai sân đá banh đã biến mất. Đầu nhà ngủ chú lớn (phòng cha Nédélec) dày kín những ngôi nhà lụp xụp tạm bợ. Hai hàng dương nối hai dãy nhà bị chặt trụi còn trơ gốc. Hai sân bóng rổ nền xi măng đã xuống cấp. Ở các trụ bóng rổ thấy có treo một số “tôm khô”, “mực khô” chắc là của cô học sinh nào đó muốn cho mau khô mà vô ý. Anh em nhiều người nhìn nhau cười: trước kia làm gì có…
Tháng 4/75, ba tôi đi học tập cải tạo biền biệt. Gia đình tôi tá túc nhà ngoại (trước kia từ 1963 gia đình tôi đã ở Sài Gòn). Chị tôi và hai đứa em kế hy sinh nghỉ học để tôi tiếp tục và hi vọng. Có những đêm buồn, khó ngủ tôi lại nghĩ về CV. Nhớ những trận đấu bóng rổ, những trận đá banh, những buổi đi dạo ngày Chúa nhật. Nhớ miên man đủ thứ, cuối cùng nhớ đang ngâm mình trong làn nước biển mát lạnh và ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Nhờ vậy mà tôi đã trải qua những năm tháng sau biến cố Tháng 4/75 có phần nhẹ nhàng hơn. Và mãi đến năm 1987 tròm trèm 30 tuổi tôi mới lấy vợ. Vợ tôi là một huynh trưởng cùng xứ.
Nhớ thầy
Có lẽ người gây ấn tượng từ đầu đời tu của tôi là thầy Gioan Đoàn Sĩ Thục. Năm đó giáo xứ Hoà Nghĩa của tôi có 5 anh em đi thi. Những ngày đi thi tôi bị sốt cao vì vết thương làm độc do nhảy hàng rào đua bị kẽm gai móc vào đùi. Thầy cho tôi ở phòng riêng trên lầu 1, giữa dãy nhà ngủ chú nhỏ và chú trung để dễ bề chăm sóc. Đêm đầu tiên tôi sốt cao quá thầy phải nhờ xe CV chở tôi đi y tá gần nhà thờ Thanh Hải. Tôi cố gắng làm bài thi trong tình trạng sức khỏe như thế. Ngày về, thầy ân cần dặn dò anh em đưa tôi về cẩn thận. Vào một buổi chiều sau thánh lễ, cha xứ rao tên những anh em đậu vào TCVSB. Mừng quá, cả 5 anh em đều đậu: Nguyễn Bá Đôn, hiện đang ở Phương Lâm – có vợ con, Trần Văn Hải còn gọi là Tự, to con nhất trong 5 anh em, nghe đâu đã mất năm 2004 ở Suối Nghệ trong “tình trạng” còn độc thân, Nguyễn Minh Tuấn ở Sài Gòn, vợ con đầy đủ, Dương Công Thu đang định cư ở Úc cùng vợ con và thằng tôi, hiện đang ở Sài Gòn, có vợ và rất nhiều con: 4 đứa.
Năm đầu vào học thầy Đoàn Sĩ Thục phụ trách hướng dẫn lớp tôi (bây giờ gọi là chủ nhiệm). Trong lớp có Nguyễn Tiến An tức An Thẹo kêu thầy bằng cậu ruột. Lớp tôi và lớp 70 hay xích mích giành nhau sân chơi, điều thường tình xảy ra ở TCV đối với những lớp gần nhau, vẫn thường gọi nhau bằng tao mày. Đầu têu lớp 70 phải kể đến Thiện – tự Ác đang ở Sài Gòn và Bình (Báu) đang ở Phước Thiện. Vì mối bang giao không tốt đẹp giữa 70 và 71 mà nhiều lần thầy và cha Nghiệp làm quản lý và phụ trách lớp 70 lúc đó khó chịu với nhau. Có phải lúc đó tôi còn bé nên nhìn cái gì cũng lớn quá mức bình thường. Tôi vào CV năm 13 tuổi, cái tuổi tối đa để học lớp 8è, trong khi khai sinh mới có 10 tuổi. Sau này ba tôi phải làm giấy miễn một tuổi tôi mới được cấp bằng lớp 9 chương trình Việt. Thầy Thục dưới mắt tôi lúc đó là một thanh niên vạm vỡ, đá banh giỏi, bơi hay, vì chiều nào thầy cũng đi bơi sau khi chúng tôi đã vào phòng học chung và nghe đồn thầy học giỏi lắm. Sau này gặp các anh lớp lớn cũng nói như vậy.
Trong lớp, tôi thuộc lọai nhỏ con nhưng nhờ biết đá banh nên thầy cho vào đội tuyển của CV, trong vai tiền đạo cánh.Trước khi tôi vào một năm, đội đã từng vô địch toàn tỉnh khối trung học. Đồng phục của đội lúc đó giống màu áo của đội Argentina nhưng dài tay để té khỏi bị trầy cùi trỏ và gai đâm (tôi tự nghĩ vậy). Những gương mặt anh em tôi còn nhớ được như Huệ lùn (tiền đạo), Minh Bà đen (tiền đạo), Tuấn tè (tiền đạo), Duyệt Ba tàu (hậu vệ, chuyên dùng mông to ép anh em) Hòa Nédélec (hâu vệ), anh Đỗ Văn Hiệp (hậu vệ) và hai tay giữ gôn: Đào Quang Toản và Lan Rài. Tôi rất thích lối bắt bóng của Lan Rài. Thầy Thục không dạy tôi môn nào cả nhưng tôi vẫn luôn nhớ đến thầy. Rất mong có ngày được gặp lại thầy. Ba mươi sáu năm rồi còn gì.
Năm lớp 7è thầy Antôn Nguyễn Hữu Hoàng dạy lớp tôi môn Pháp văn. Cùng dạy môn Pháp văn lớp tôi năm học này có Cha Giám đốc Nguyễn Tôn Sùng và Cố Gervier. Thầy Hoàng ngược lại với thầy Thục: nhỏ con hơn nhưng có vẻ nhanh nhẹn, dễ gần gũi và hay mắc cỡ đỏ mặt, tía tai. Thầy đá banh cũng giỏi nhưng tôi thấy thầy chơi bóng rổ hay hơn. Tôi học thầy cách ném banh dừng trên không với bàn tay trên đỉnh đầu, cách tận dụng tối đa chiều cao khiêm tốn của mình. Nhờ đó khi được chọn vào đội tuyển của CV tôi mới dám chơi với những anh cao hơn mình cái đầu. Nói về đá banh, Sao Biển chẳng ngán ai cả.. Riêng bóng rổ phải chịu thua LaSan. Tôi không thể quên trận bóng rổ với LaSan, hình như là năm lớp 6è. Họ ăn mặc đẹp lắm, quần áo mới toanh, ba ta trắng muốt. Nước da trắng trẻo như con gái. Còn anh em Sao Biển có vẻ trâu cui hơn. Đồng phục thi đấu lấy của bóng đá cũ ơi là cũ. Giày có người mang người không, vì không quen và đa phần đã cũ. Nghỉ giữa hiệp họ cho uống CôcacôLa ướp lạnh. Đã ơi là đã. Khi ra thi đấu tiếp, vừa chạy vừa ợ, hơi xộc lên tận mũi. Đến giờ nghĩ lại tôi vẫn còn nhớ cái mùi ấy.
Sau biến cố Tháng 4/75, nghe Dương Công Thu cho hay thầy đã được phong chức và phụ trách giáo xứ Sông Pha, gần thác Đa Nhim, một giáo xứ nghèo ơi là nghèo. Có lần tôi về Song Mỹ, xứ của Lê Châu Tuấn (70) và Lê Hồng Bảo (72), thăm ba người chú ruột và có dịp thăm thầy. Tôi đạp xe từ Song Mỹ tới Sông Pha và ở lại dùng cơm trưa với thầy. Bữa cơm thật đơn sơ với chỉ một món duy nhất: canh chua tự thầy nấu. Lâu rồi tôi không nhớ nấu với cái gì nhưng ngon lắm. Ở đây thầy vừa coi xứ vừa tập hát cho ca đoàn. Bổng lễ hẻo lắm. Chiều chiều nghe nói thầy cũng chơi thể thao với thanh niên và thỉnh thoảng cũng chén cha chén con với họ cho vui vẻ hòa đồng. Đùng một cái tôi nghe tin… Buồn lắm chứ. Nhưng thà dứt khoát vậy mà hay. Nạc ra nạc, mỡ ra mỡ. Xin đừng lấy lý do vì con người yếu đuối nên bắt cá hai tay. Trò chơi nào cũng có luật của nó. Cuộc sống nào cũng có giá của nó. Đến bây giờ tôi vẫn quý trọng thầy.
Còn về các Cha làm “thầy” dạy lớp tôi cũng nhiều. Có Cha dạy học như cưỡi ngựa xem hoa. Có Cha dạy học vừa đủ tròn bổn phận. Riêng có một Cha mà cách dạy và tinh thần dạy tôi không bao giờ quên.
Tôi còn nhớ đến cuối năm 7è, trình độ Anh Văn lớp tôi chưa có gì đáng nói. Đầu năm 6è Cha phụ trách Anh văn lớp tôi. Lúc đó Pháp văn là Sinh ngữ chính (một tuần 8 giờ) còn Anh văn chỉ là phụ (tuần 4 giờ). Ấy vậy mà chúng tôi học Anh văn còn khẩn trương hơn Pháp văn nhiều. Hồi đó học y như bây giờ gọi là cấm túc, truy bài vậy. Nhờ đó mà sau này khi ra ngoài học, về Anh văn chúng tôi không chịu thua sút ai. Đặc biệt là những điểm văn phạm khó, được dệt thành thơ nghe ngồ ngộ nhưng dễ nhớ và nhớ lâu. Thêm nữa là phiên âm quốc tế, đọc chữ nào là phiên âm quốc tế ra ngay. Chính vì cách học đó mà sau này gặp và học chung với một số anh em Cựu chủng sinh Qui Nhơn họ cũng khen.
Cha cũng là người tập hát cho TCV. Thật tình mà nói giọng Cha hát không được hay nhưng tập hát rất chuẩn và có hồn. Tôi nhớ có lần Cha chọn và thành lập ban hát riêng để hát những bài hát đời của thầy Hải Linh. Cha mở băng để cho ban hát nghe ca đoàn Hồn Nước trình bày bài “Trăng mờ Đà Lạt” và một bài nữa mà tôi quên mất. Cha tập đi tập lại nhiều lần đến khi thuần thục mới thôi. Hôm trình diễn xong được mọi người khen quá thể. Thỉnh thoảng Bùi Lương Thiện (70) bảo tôi là con cưng của Cha về nhạc. Nói như vậy không đúng. Con cưng về nhạc của Cha lúc bấy giờ tôi nhớ không lầm (trong phạm vi các lớp 69,70,71) chỉ có Lê Đăng Ngôn (70), Nguyễn Ngọc Tâm (70), Phạm Tiên (70). Hình như còn có Ngọc Khánh (69) thì phải. Nhưng nổi trội hơn có lẽ là Lê Đăng Ngôn. Tôi nhớ có lần Ngôn điều khiển các chú hát ngay sảnh giữa tầng trệt chú nhỏ (đối diện hàng thông). Việc điều khiển với tôi lúc đó thật là to tát.
Khi còn ở TCV tôi không thích nhạc, giờ nhạc là cực chẳng đã. Thấy trong giờ chơi anh em thích chép nhạc, chủ yếu là nhạc đời, tôi chê là công tử chân yếu tay mềm. Tôi chỉ thích chơi thể thao thôi. Chính vì điều đó mà sau này nhiều bản nhạc thịnh hành thời đó tôi chả biết mô tê gì cả. Năm 1977 vì nhu cầu bắt buộc tôi phải tập hát cho ca đoàn. Xướng âm không biết, nhạc lý lơ mơ, ấy vậy mà tôi cũng liều tập hát. Đúng là điếc không sợ súng. Lúc đó cũng có nhiều người điếc như tôi lắm chứ không như bây giờ. Những bài hát Cha tập cho các chú ở CV là cứu cánh cho tôi lúc bấy giờ. Tôi đem những bài đó ra tập cho ca đoàn. Vừa tập vừa tự học mà chẳng ai biết. Thời đó đã qua, giờ nghĩ lại tôi thầm cảm ơn Cha, người thầy dạy nhạc đầu tiên của tôi: Giuse Trần Văn Láng. Xin nói thêm Cha cũng dạy tôi đệm đàn phong cầm đâu được hơn một tuần.
Nhớ lớp
Đến giờ tôi không nhớ sĩ số lớp tôi năm học đầu tiên là bao nhiêu. Từ lúc TCV nghỉ hè vô thời hạn đến nay đã trọn 32 năm, lớp tôi chưa một lần gặp nhau. Nếu có chăng chỉ một lần về Nha Trang dự lễ (tôi đã nói ở phần trước), tôi có gặp được Giáo rạ, sau Tháng 4/75, vẫn tu tiếp rồi mặc áo dòng, nay đã xuất. Rồi Khánh Tom, con thầy Tiên, cũng là thầy dạy Pháp Văn đầu tiên của lớp tôi. Khi dự lễ tấn phong Giám mục xong tôi đoán chắc có Linh - hình như là Nguyễn Duy Linh thì phải, cháu gọi Đức Cha Nho bằng cậu ruột - về dự nên rủ Giáo và Khánh vào tìm. Đúng là Linh có về, nhưng hắn không nhớ bạn bè có lẽ vì lâu quá. Biệt danh của hắn là Mụ Béo (nếu tôi không lầm). Hiện Linh đã có gia đình, đang hành nghề BS Nha khoa ở thành phố Chicago. Tin tức của CV sau biến cố Tháng 4/75 tôi biết được đều nhờ Dương Công Thu – hiện đang ở Úc cùng vợ con. Tôi còn gặp Đỗ Tiến Sĩ, em Đỗ Tiến Dũng (69) hiện ở quê vợ Miền Tây. Riêng tại Sài Gòn tôi có gặp Nguyễn Minh Tuấn, cùng xứ Hòa Nghĩa với tôi trước kia và Bùi Huy Thắng trong dịp họp mặt ở nhà thờ Huyện Sĩ.. Nguyễn Đức Tuấn (70-71) hiện đang ở Phương Lâm. Còn ở Hộ Diêm, một lần ghé thăm Cha Nguyễn Tôn Sùng, tôi có gặp Nguyên “già dê” và Tịnh em anh Tịch (68). Tịnh tôi còn nhận ra chứ “già dê” thì thay đổi nhiều quá. Nếu gặp khơi khơi ngoài đường chắc chẳng nhận được nhau. Còn Trương Mạnh Hùng, tự Cô Đào, gốc Phan Rang hiện đang làm Giám đốc Công ty địa ốc cho người em ruột ở Sài Gòn. Sau bao nhiêu năm, tôi chỉ gặp mặt trực tiếp được có bấy nhiêu đó thôi. Nghe đâu ở Nha Trang còn có Thọ Lác. Vừa rồi Giáo có ra lấy của Thọ một bức ảnh của lớp chung năm 8è với thầy Tiên ngay sân bóng rổ nền đất, gần nhà nguyện để anh Cẩm (62) làm Album. Tôi nhớ lớp tôi còn có: Huỳnh Xuân Ánh ở Mỹ; Nguyễn Tiến An tự “An thẹo” nghe đâu còn ở Hà Dừa; Lê Công Hưng ở Mỹ, biết được nhờ đọc TTSB 2005; Mai Thúc Biện hiện là LM ở Canada, mới được tin qua Đặng Ngọc Duyệt (69); Lê Như Bể, tự thánh Bể, đã chết khi làm thầy; Nguyễn Văn Đức (Hòa Yên), chết sau Tháng 4/75 vài năm; Hồ Đức An Phong đang ở Mỹ; Hồ Đức Khiêm nghe đâu cũng ở nước ngoài không biết có còn tu không? Đậu Quang Khánh, Phước Bateau, Nguyễn Thanh Vương giờ chẳng biết ở đâu? Còn Gò Đền có Hồng, Hòa. Riêng Phẩm đang làm phó tế vĩnh viễn ở Mỹ…
Nhìn các lớp trên như 60, 62, 65, 69 -70, và các lớp dưới như 72, 73 họp mặt ì xèo tôi cảm thấy buồn cho lớp 71 của mình. Có điều an ủi là lớp tôi còn được một Linh mục và một Phó tế “chính thống” 71. còn Nguyễn Văn Tuấn (Tuấn tè) và Bùi Sĩ Đức là anh em lớp 70 thích ở lại lớp tôi thôi.
Xin anh em 71 cầu nguyện nhiều cho nhau. Hẹn gặp lại cùng với anh em các lớp khác trong ngày “50 năm Sao Biển Nha Trang”.
Nguyễn Trọng Vinh 71
28-4-2007
|