MAIN MENU
VỀ ÂN SƯ & BẠN BÈ
- Các ân sư trong những hộc ký ức
- Cảm nghĩ về các ân sư
- Cố Hồng thần tượng
- Nhớ Cố Hồng
- Gặp gỡ các Ân Sư MEP
- Lettre de mon jardin
- Bữa cơm Yêu Thương & Tri Ân
- Cha Alexis Nguyễn Thạch Ngọc
- Sư phụ âm nhạc
- Kể tiếp chuyện cha Láng
- Vị Thầy giám thị khả kính
- Đời Sao Biển - năm I
- Pourquoi ai-je quitté mon sacerdoce?
- Đường tôi đến Sao Biển
- Tôi làm chú nhỏ
- Anh ấy, bạn tôi
- Tình đầu chưa nguôi
- Hắn và tôi
- Cái va-li
- Tình ngay ý gian
- Những mẫu chuyện không quên
- Thằng Lẩu dự hội Bàn Ðào
- Hai khoảnh khắc không biết nói
- Một thời chú Tiểu
- Cu Đen
- Dại dột
- Thành Dzảnh
- Nhớ Phú Già
- “Le Nhaque”
- Hội ngộ Dana Point
- Kiếp “mặt sắt” ở xứ người
- Chỉ là giấc mơ
- Một thoáng bâng khuâng
- Sao Biển hỉ nộ ái ố
- Một kỷ niệm không đẹp
- Tổ trác thằng từ Đinh
- Chuyến đi xa đầu đời
- Những mảnh đời
- Một cõi quay về
- Những chuyện tình ở SB
- Cái “nong mạch”
- Kỷ niệm “anhphiếcmiê”
- Dấu kỷ niệm khó quên
- Một chút gì để nhớ
- Bệnh truyền nhiễm
- Một chuyến Mẽo du
- Đi thi
- CSB Biên Hoà tiễn cá
- Tâm tình sau hội ngộ
- Ét Bê Sờ Tai (SB style)
- Nicknames yêu dấu
- Mùa Chay nhớ bạn cũ
- Tản mạn về quá khứ vùng trời Sao Biển
- Cọp 72
- Một thời để nhớ
- Ký sự chuyến dự lễ mở tay
- Thư từ Nam bán cầu
- Nhớ mãi không quên
- Tản mạn về SB của tôi
- Trộm thuốc và hái dừa non
- Nhớ
- Ét Bê 72 phiêu lưu ký
- Dạo núi
- Thế mới là dân SB chứ!
- Sao Biển 66 hải ngoại
- Vĩnh biệt “thánh” Thành
- SB 67: số liệu và sự kiện
- Người đương thời
- Đi dạo
- Bắt trộm
- SB săn bắt trộm
- Thả trộm
- Kẹo và chú Sao Biển
- "Mình nhớ anh em quá!"
- Một chuyến đi
- Hoàng hôn trên biển
- Giáp mặt
- Giai điệu tri âm
- Miếng cơm cháy
- Những anh hùng sân banh SB
Dạo núi
Nguyễn Hoàng 57


Hò đều hò vang, dzô,
Đi qua rừng hoang, dzô,
Băng suối băng đèo, dzô...

Không biết ai đã dạy cho các chú nhà trường bài hát này lúc nào, nhưng hình như chú nào cũng thuộc bài này, những lúc đi dạo núi. Một điều tôi biết chắc, đó là nhạc-sĩ Anh-Linh chưa từng chính-thức dạy chúng tôi bài này. Bài hát mà anh đã rất tốn công để dạy chúng tôi là bài:
Một đoàn trai ra đi biên giới
Bụi trường chinh bạc vai áo ai...

Có lẽ một anh em nào đó đã hát lên trong một dịp leo núi, rồi những anh em khác thấy hay hát theo. Và cuối cùng nó trở thành bản trường ca của anh em Sao-Biển nhân những cuộc đi dạo núi.

Hình như cứ mỗi chiều thứ tư và chúa nhật là chúng tôi được đi dạo. Khi thì đi ra Bãi Sạn đá banh với nhau, lúc thì đi qua sân bắn của trường hạ-sĩ-quan Đồng-Đế xem anh em quân-đội bên đó tập trận, tập bắn, lúc thì đi qua sân banh của La-San đá với nhau hoặc thi đấu với họ, lúc khác thì đi Hòn Chồng. Đại khái, đó là những nơi các chú nhà trường thường đi dạo vào những buổi chiều như thế trước khi quay trở về bãi biển quen thuộc của chủng-viện để tắm và về lại nhà trường.

Không biết tên thật sự của dãy núi này là gì. Các chú cứ tạm gọi nó là núi Đồng-Đế cho tiện. Muốn đến đó, thường thì chúng tôi băng qua Quốc-Lộ 1, đi vào Nghĩa-Trang Bắc-Việt. Đó là một nghĩa trang sát chân núi và chạy dài dọc quốc lộ. Chúng tôi chẳng có ai thắc mắc về cái tên gọi của nghĩa trang này cả. Chúng tôi chỉ thích cái dãy núi sau lưng nó thôi. Sau khi vượt qua những đống đá ba-lông ( chúng tôi gọi thế theo dân địa-phương về những viên đá đẽo vuông-vắn để làm móng nhà), chúng tôi được hai thầy giám-thị thả tự do muốn đi đâu thì đi.

Đó là nơi chúng tôi có nhiều kỷ-niệm nhất. Núi rừng mà, thiếu gì thú vui chứ! Các chú tha hồ thi nhau trổ tài leo núi. Chú nào leo đến đỉnh núi nhanh nhất sẽ được tuyên-dương là dũng-sĩ leo núi. Các chú, nhất là các chú nhỏ khoái lắm. Ai mà không thích được khen chứ? Núi này không có dốc lắm, sườn núi thoai thoải, cũng chẳng có cây to. Dưới chân núi có những nơi thụt hẳn vào vì bị khai thác đá. Lưng chừng núi có những chỗ có nhiều lùm cây rậm, nhưng cũng có những nơi chỉ trơ có đất đá. Lên cao nữa chỉ có cỏ thôi. Tôi theo mấy chú nhỏ thi nhau leo núi. Tuy tôi thuộc lớp lớn hơn, nhưng vì tôi tuổi còn nhỏ nên cứ bị mấy anh chàng lớn con đuổi đi như đuổi tà. Nhưng mấy chú nhỏ lại không mấy thích tôi vì tôi không phải cùng lớp. Mặc kệ, dù sao theo các chú nhỏ cũng còn khá hơn là đi theo mấy anh chàng cùng lớp. Ít ra thì tôi cũng không bị ăn-hiếp.

Vừa được thả ra là tôi ba chân bốn cẳng trổ tài leo núi. Tôi có thể theo những triền núi thoai thoải mà đi lên. Cách này cũng được, nhưng không được nhanh lắm. Tôi thích nhảy qua các gộp đá hơn. Cách này vừa nhanh, vừa khỏi trợt, lại vừa vui nữa. Chẳng mấy chốc tôi đã lên được chỗ cao nhất. Tôi kiếm một gộp đá bằng phẳng ngồi xuống và nhìn xuống la to một cách khoái trá:
"Ê, ê, lên đây cho mau, trên này mát lắm!"
Nhưng hình như chẳng ai để ý đến tôi cả. Mỗi người đều có sở thích riêng. Họ chia ra từng nhóm, đi theo nhau lên những nơi họ muốn đến. Thấy chẳng ai chú ý đến mình, tôi nằm sải dài một chút nghỉ mệt rồi bắt đầu đi xuống với họ. Té ra tôi dại thật! Ở trên cao này, tuy có thoáng mát, nhưng chẳng có gì vui cả. Ở lưng chừng núi mới có những gì anh em thích. Ở đây bụi rậm rất nhiều, nên trái cây rừng nhân đó cũng nhiều. Anh chàng nào bê-rê cũng đầy trái cây cả. Nhiều nhất là trái chim chim. Tuy không được ngon lắm, nhưng cũng lạ miệng. Rồi đến trái mồng gà; những trái này tôi chưa từng được nếm qua, nhưng ăn cũng thật thú vị. Tôi được anh em cho mấy trái, rồi cùng theo anh em đi kiếm thêm. Nhưng họ có cho tôi đi theo hoài đâu, nên tôi đành phải tách bầy tự mình đi kiếm. Tôi làm cái gì cũng được, nhưng chuyện kiếm cái ăn thì tôi dở không ai bằng. Ở đây còn một loại trái rất hiếm. Đó là trái ngâu rừng. Trái này to và tròn như viên bi, lại còn ngọt thanh không trái nào bằng. Chỉ có vài nơi mới có nó. Những anh em nào biết cũng cố giấu ém nhẹm cho nhóm của mình. Nhưng tôi cũng kiếm được một ít cam đường để bù lại.

Không phải lúc nào đi lên núi cũng là để hái trái cây cả. Kiếm cái gì bỏ miệng là chuyện đương-nhiên, nhưng ở núi này còn những thứ khác nữa. Một trong những thứ đã từng được anh em cố gắng tìm kiếm, đó là 'quít' và ong ruồi. Hai thứ này đã từng gây nên phong-trào, những phong-trào lớn của chủng-viện như nuôi quy, bắt tôm-tít chích phọoc-môn, nuôi cá xanh v.v...
Không hiểu anh em nào đã phát hiện ra trước giống quít này. Có người gọi nó là con cam vì nó rất là to. Lúc nhỏ khi chưa đi học chủng viện, tôi cũng thường hay đi bắt quít, nhưng quít ở đồng bằng nhỏ hơn nhiều so với giống quít này. Con quít núi này to gần bằng ngón tay cái, màu xanh biếc trông rất đẹp mắt. Nó chỉ ăn một loại lá cây không biết tên gì, nhưng cũng dễ kiếm trên núi. Thế là cứ mỗi lần đi dạo núi là anh em đổ xô đi tìm bắt quít về nuôi. Chai hũ gì cũng đều được đem ra trưng dụng. Chú nào kiếm không ra chai thì hộp diêm quẹt cũng được. Chỉ cực cho mấy thầy giám thị không ngủ được vì những con quít này. Cứ đến giờ ngủ trưa là các chú lại đem quít ra ngắm rồi xì xào bàn tán với nhau. Tôi cũng bắt được một vài con trong những chuyến đi này. Tôi bỏ chúng trong một cái ve nhỏ để ở đầu giường. Cứ lâu lâu tôi lại mang chúng ra ngắm nghía xem chừng nào chúng đẻ. Đương nhiên, điểm hạnh-kiểm trong tháng của tôi không bao giờ cao lên được.

Phong trào thứ nhì là phong-trào nuôi ong. Tôi rất dở về môn sciences naturelles, nhưng tôi lại thích thú trong khi học đến xã hội loài ong. Thế rồi nhân một chuyến đi dạo núi, trong lúc tôi cùng một nhóm anh em đi kiếm cam rừng, chúng tôi bỗng bắt gặp một tổ ong ruồi. Đương nhiên, đời nào chúng tôi lại bỏ qua. Chúng tôi đi gom lá cây lại un khói để lấy mật ăn. Đám ong sau khi hết khói tụ lại một cành cây khác. Tôi đến quan sát thật kỹ và cuối cùng tìm được ong chúa. Thế là tôi bắt lấy nó, kiếm một sợi chỉ và cột ngang lưng nó. Tôi bẻ một cành cây cột nó vào và ngồi đợi. Chiều hôm đó tôi không đi tắm biển với anh em. Tôi cứ ngồi đợi trên bãi biển chờ đến giờ về. Một anh em cùng lớp đề nghị: "Mày cột sợi dây đó không chắc đâu. Phải là một cái ống có đục lỗ bỏ nó vào mới được." Tôi không biết phải tìm cái ống ở đâu cho kịp, vì cũng đã sắp hết giờ nghỉ. Trong lúc đang lúng túng bỗng một anh bạn cùng lớp cho tôi một ống aspirine rỗng. Tôi lấy nước rửa sạch sẽ, đục lỗ và nhốt con ong chúa vào bên trong. Tôi đem tổ ong máng lên một chỗ trong nhà chơi các chú lớn. Chiều hôm đó sau khi ăn cơm xong, trong lúc anh em đi tới đi lui chuyện vãn cho tiêu cơm trước giờ kinh tối, tôi cứ lảng vảng ở nhà chơi xem tổ ong còn hay không. Tối hôm đó tôi ngủ không được. Tôi những mong trời mau sáng để thăm chừng tổ ong của tôi.

Tôi đã không giữ được tổ ong quý giá của tôi. Sau giờ lớp thứ nhất ngày hôm sau, tuy chỉ có 15 phút giải lao, nhưng tôi cũng cố đi nhanh vể chỗ tổ ong của mình. Ôi thôi, chẳng còn con ong nào cả, chi còn trơ lại một cành cây khô với con ong chúa chết trong ống aspirine. Tôi tiếc rẻ mãi , và quyết tâm sẽ đi tìm tổ ong khác. Đó là mùa ong phân bầy, nên có rất nhiều bầy ong đi ngang qua ngôi trường của tôi. Tôi lại bắt ong, tìm ong chúa, lại mất ong chúa, rồi lại đi tìm bầy ong khác. Thậm chí có lúc tôi dùng cả cái mùng của tôi bắt cả bầy ong mang về giường ngủ của tôi để lựa bắt ong chúa. Dĩ nhiên tôi không có nhiều thì giờ, nên tôi đành phải ngủ chung với bầy ong của tôi. Chúng ngủ trên một góc mùng và tôi nằm trên giường. Kết quả là gương mặt tôi lúc nào cũng sưng lên vì bị ong cắn! Không những chỉ có tôi mới thích đi bắt ong về nuôi, các chú khác cũng bắt chước. Thậm chí cả thầy giám thị Thạnh cũng bắt được một bầy. Thầy chỉ cho chúng tôi cách bắt một bầy ong đang bay qua. Thầy bảo: "Khi một bầy ong đang bay, chúng đều bay theo một hướng nhất định. Nếu các em lấy kính rọi lên chúng, hoặc giải cát lên chúng, thế nào chúng cũng đáp xuống một cây nào gần đó để chỉnh đốn lại hàng ngũ trước khi tiếp tục bay đi nơi khác". Chúng tôi đã nghe lời và rất là thích thú về khám-phá mới này. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ làm được đến đó thôi, và không một ai giữ được bầy ong nào cả, kể cả Thầy Thạnh.

Không chỉ có các chú nhỏ mới thích leo núi. Các chú lớn cũng vậy. Tuổi choi choi mà! Mấy anh chàng này hay tự cho mình đã trưởng thành. Họ cho rằng họ có rất nhiều chuyện để nói 'khó' với nhau mà không muốn các chú nhỏ đến phá! Lần nào cũng vậy, sau một lúc lùng sục tìm trái rừng hoặc đi bắt quit như chúng tôi, bọn họ đều quy-tụ trên đỉnh núi. Tôi ít khi đi một mình lên đó. Thứ nhất, trên đó chỉ có cỏ xanh không có thứ gì để kiếm chác cả. Thứ nhì, tôi sợ cọp. Nghe đồn cọp Khánh Hòa dữ lắm, và chúng thường hay xuất hiện ở nơi núi cao vắng vẻ như thế. Tuy vậy tôi vẫn cứ tò mò không biết bọn họ bàn luận những gì. Biết rằng họ luôn luôn tụ họp ở trên đó, nên có lần tôi tìm cách lảng vảng nơi họ tụ họp để lắng nghe xem họ bàn với nhau những gì. Lần nào cũng vậy, tôi bị đuổi đi ngay với một câu: đi chỗ khác chơi! Con nít mà đòi nghe chuyện người lớn! Chuyện gì là chuyện của người lớn chứ? Mình cùng học chung với nhau mà! Tại sao mình chưa là người lớn chứ? Hay tại mình nhỏ con hơn họ! Làm tàng quá cỡ! Tôi vừa đi xuống núi vừa lầm bầm trong miệng.

Đi dạo núi đúng là thú vị. Nhưng núi rừng mà! Thiếu gì những nguy-hiểm đang chờ! Rắn rết cũng nhiều mà tai nạn cũng không thiếu. Chúng tôi cũng có đôi lúc bắt được rắn lục và rết núi, bò cạp núi. Chúng tôi mang chúng về như chiến lợi phẩm được trưng bày ở các nhà chơi! Tôi thấy chúng ghê thật, nhất là những con rết và bò-cạp núi. Chưa bao giờ tôi gặp những con to như vậy ở đồng bằng! Cũng may là chưa đứa nào bị chúng cắn cả, nếu không chắc Cha Cảnh có nhiều việc làm rồi! Tuy tôi chưa gặp những thứ đó, nhưng không có nghĩa là tôi không gặp tai nạn. Trẻ con mà! Dù là đi tu, nhưng sự tinh nghịch của trẻ con bao giờ cũng vậy, những thứ mà người lớn không bao giờ ngờ tới.

Lần đó là một chiều chúa nhật năm 1958, năm học đầu tiên tại ngôi trường mới. Tôi học lớp 6. Lớp tôi thuộc lớp trung-gian. Lớn nhất là lớp nhì của mấy anh Thạnh, Thượng. Thứ nhì là lớp 4 của Châu, Phong, Nghiệp, Sơn, rồi đến lớp 5 của anh Nguyễn-văn-Hòa, anh họ tôi. Hình như lớp 4 được gửi học ở Phan-Xi-Cô, và lớp 5 được gửi học ở La-San thì phải. Tuy được gửi học ở những nơi đó vì Tiểu-Chủng-Viện thiếu lớp, nhưng họ vẫn ăn ngủ tại chủng-viện vào những lúc không đi học. Dĩ-nhiên, những cuộc đi dạo này làm sao thiếu mặt họ được. Dưới lớp tôi còn có lớp 7, và lớp 8 mới nhập học. Cũng như thường lệ khi đi dạo núi, chúng tôi khai thác những gì chúng tôi chúng tôi có thể khai thác được. Thét rồi cũng chán! Một số anh em tìm cách nghĩ ra các trò chơi mới. Ở đó có những chỗ bị nước xói lở từ lưng chừng núi. Những đoạn này trông rất rõ nếu nhìn lên từ quốc-lộ. Có những nơi thật là dốc, nhưng cũng có những chỗ cũng khá lài lài. Trong lúc các chú lớn đang bận nói 'khó' với nhau trên đỉnh núi, hoặc kiếm những lùm cây mát nằm nghỉ chờ còi xuống núi của các thầy giám thị, các chú nhỏ lớp 8, nhất là mấy chú Ba-Làng, cùng nhau bẻ các cành cây nhỏ bện thành một chiếc xe trượt nhỏ rồi thay phiên nhau ngồi lên trên để trượt xuống núi. Chỗ này cũng khá lài nên trò chơi này khá thú vị. tiếng la hét vui đùa của anh em vang vọng một góc núi. Lúc đó tôi đang đi tìm hái chim chim gần đó nên thấy cái trò đó hay hay. Tôi dựa theo vách núi đến chỗ mấy anh em đang đứng reo hò. Tính trẻ con nổi lên, tôi cũng muốn tham gia trò chơi thú vị này. Thế là chúng tôi giành nhau thi trượt núi. Tôi đi được một lần nên muốn đi lần nữa. Còn gì thú vị hơn nữa chứ! Cũng giống như mấy anh chàng biệt động đội ở trường Biệt-Động-Đội (tên cũ của trường Hạ-Sĩ-Quan sau này) đi dây tử thần. Muốn trượt xuống núi phải ngồi đúng thế: Hai chân xuôi tới trước, người nghiêng về đàng sau để lấy thăng-bằng.
"Đến phiên tao! Đến phiên tao!"
Tôi vội lấy cái xe trượt dã-chiến của một chú vừa trượt xong. Tôi cẩn thận đặt nó xuống chỗ hơi bằng bằng, rồi ngồi lên vừa níu lấy một cành cây nhỏ gần đó để giữ cho cái xe khỏi chạy trước khi tôi sẵn sàng. Không rõ một chú nào đó, có lẽ vì nôn nóng đến phiên mình hay sao đó, đẩy vào lưng tôi một cái thật mạnh. Thế là tôi mất thăng-bằng, chúi nhủi về phía trước và bắt đầu lăn xuống dốc trước sự la hoảng kinh hoàng của các anh em trên dốc. Tôi sợ quá, cứ theo bản năng tự vệ, hai tay bảo vệ lầy đầu, chân co quắp lại, và để cho thân mình tôi muốn lăn đâu thì lăn. Người tôi tròn lại như bánh xe và cứ thế lăn nhanh xuống dốc. Tôi không biết mình đã lăn bao nhiêu vòng, nhưng biết rằng mình lăn nhanh lắm. Có đôi lúc tôi cảm thấy mình như bị nhấc bỗng lên không một lúc lâu trước khi chạm xuống đất và tiếp tục lăn. Cuối cùng rồi tốc độ lăn của tôi chậm dần và chuyến du-hành của tôi chấm dứt. Tôi nằm sóng soài dưới đất một lúc rồi mở mắt ra. Có tiếng la hoảng và rồi tiếng chân rầm rập chạy đến. Tôi thấy hai thầy giám thị đang hối hả chạy đến. Tôi cố sức ngồi dậy, nhưng hình như sức lực của tôi chạy đi đâu mất cả. Tôi định chống tay ngồi dậy, nhưng hình như cánh tay trái của tôi không sử-dụng được. Tôi xoay người qua bên phải, dùng cánh tay phải chống xuống đất và ngồi dậy được trước khi hai thầy giám thị đến nơi.
"Hoàng, con có sao không?" Cả hai thầy giám thị đồng lên tiếng, vừa ngồi xuống xem xét.
Tôi không trả lời được câu nào vì quá hoảng sợ. Chẳng bao lâu, anh em của tôi, những anh em gần nhất trước, rồi những anh em khác lục tục kéo dến. Mỗi người đều lo-lắng hỏi một câu. Thật là lộn-xộn. Nếu bình thường chưa chắc tôi đã trả-lời được, huống chi là lúc này. Hai thầy giám thị đỡ tôi đứng lên, cởi áo sơ-mi tôi ra và tiếp-tục xem xét vết thương. Hai cánh tay tôi không bị gãy xương, chỉ bị trầy da xoàng thôi. Nhưng hình như một khớp xương đòn gánh của tôi nơi gần cổ bị trật, có lẽ khớp kia cũng bị trật nữa. Tạm thời, chỉ thấy như thế, chì chỗ đó sưng lên bầm tím như quả trứng gà.
"Có chú nào biết tại sao chú Hoàng lăn xuống núi không? Một thầy hỏi.
"Thưa thầy, anh ấy vừa ngồi vào cái rế cỏ để trượt núi là xảy ra chuyện. Không hiểu vì sao anh ấy mất thăng bằng và lăn tròn xuống núi. Chúng con sợ muốn chết. Thấy anh ấy bồng lên bồng xuống, tưởng đâu sẽ táng vào đống đá ba-lông này rồi chứ! Cũng may là không đến nỗi nào!" Không biết ai đã lên tiếng trả lời.

Lập tức một thầy giám thị lấy còi ra thổi từng hồi gọi các chú xuống núi, mặc dầu chưa đến giờ về. Trong lúc chờ anh em lục-tục xuống núi, tôi ngồi xuống một tảng đá ba-lông gần đó. Nhìn đống đá cao chất ngất, tôi bỗng giật mình. Không lẽ mình vồng qua cả đống đá này sao? Nếu chạm vào đó một chút thôi là coi như mình đã tu xong rồi! Thật là một phép lạ của Chúa quan-phòng! Lúc này cánh tay tôi mới bắt đầu đau nhức. Tôi cố bậm môi lại chịu nhưng cũng cảm thấy ứa nước mắt. Ước gì phải có má mình đây hoặc chú Chín mình đây để mình khóc cho đã!

Tôi được cha Cảnh chăm sóc tận tình. Tuy cha nóng nảy, nhưng lại rất tận tình với các con bệnh. Tôi được chích thuốc giảm đau, và mấy ngày sau, trong lúc tôi còn nằm ở bệnh xá, tôi được má tôi đến thăm mang theo thuốc trặc đả của ông Ba Thăm. Má tôi vừa khóc vừa trách móc tôi tại sao chơi dại như vậy! Tôi cũng thấy mủi lòng đôi chút, nhưng đồng thời cũng cảm thấy mở cờ trong bụng vì tình thương của mẹ mình.

Đây không phải là lần đầu tôi suýt chết trong những tai nạn lúc đi chơi núi. Trước đây, lúc còn ở chủng-viện Làng-Sông, tôi cũng đã gặp một tai-nạn tương tự khi đi chơi núi Xương-Cá. Năm đó là năm học đầu-tiên và cũng là cuối cùng của tôi tại Làng-Sông. Cha Bề Trên là cha Nghị, chú Chín tôi và thầy Phận ở Cây-Vông là giám thị. Chúng tôi thường đi dạo ở núi Kỳ-Sơn. Nhưng có một lần chúng tôi được cho đi chơi ở núi Xương Cá. Ngọn núi này thật đúng như tên gọi, toàn là đá không, chẳng có bao nhiêu cây cỏ cả. Tôi cũng đã bị một anh bạn nào đó xô, lỡ đà nên phải chạy thẳng xuống một vực sâu. Chú tôi lúc đó đang ngồi chơi ở lưng chừng núi, ngay hướng chạy xuống của tôi. Chú tôi không nói gì, có lẽ vì quá hoảng-sợ, chỉ thấy người đứng dậy đưa tay cố níu tôi lại. Vì khoảng cách còn hơi xa, nên người chỉ nắm được tay áo của tôi. Nhưng người không chận tôi lại được, chỉ xé được tay áo sơ-mi của tôi thôi. Tôi cũng thật hoảng sợ nói không nên lời. Phía dưới cách chỗ tôi đang chạy không xa là một vực thẳm, không biết sâu như thế nào. Tôi những muốn dừng lại, nhưng không được. Nhưng rồi không hiểu vì sao có một sức lực nào đó làm tôi ngồi xuống, đưa hai chân trước ra phía trước. Tôi tiếp tục trượt xuống về hướng thung lũng. Cũng thật là may, trên hướng chuồi xuống của tôi, tôi gặp một tảng đá khá lớn. Tôi chuồi đến ngay tàng đá đó và đạp ngay vào đó. Tảng đá rơi ngay xuống vực và mãi một lúc sau mới có tiếng vọng lên. Tôi vẫn tiếp tục chuồi xuống nhưng với tốc độ chậm hơn. Cuối cùng tôi dừng lại ở mép vực, chân tôi thòng xuống. Tôi không dám nhúc nhích vì sợ lọt xuống vực. Chú tôi bảo tôi ngồi yên, rồi cùng một số chú lớp 7 nắm tay nhau chuyền xuống lôi tôi lên. Lần đó không như lần này; tôi chỉ có hoảng sợ, nhưng không bị việc gì!

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về hai tai nạn này. Toàn là tai-nạn có thể chết người! Nếu Chúa không ra tay nâng đỡ thì không cách gì tôi sống sót cả. Tôi kết luận là Chúa đã gìn giữ tôi vì một mục-đích nào đó. Tôi rất tự tin về việc này. Sau này khi đi hành quân, tôi không bao giờ đội nón sắt và áo giáp cả nếu không ai bắt buộc. Năm 75, lúc di-tản về hướng Chu-Lai, Quảng-Ngãi, tôi cũng chẳng hề vội vã như mọi người; tôi cứ đi bình thản trên quốc-lộ, vì tôi tin chắc Chúa sẽ gìn giữ tôi không việc gì. Lúc ở tù cải tạo, có một lần tôi bị bệnh suýt chết. Anh em trong tù ai cũng đoán như vậy. Chỉ có tôi là không tin tôi lại chết dễ như thế! Không thuốc men, không thăm nuôi, nhưng tôi đã hết bệnh! Nhưng Chúa muốn tôi làm gì cho ngài? Đó là một câu hỏi rất to trong đầu của tôi, lúc nào cũng vậy, ngay cả lúc này! Nhưng thú thật, tôi chưa có câu trả lời.

Nguyễn Hoàng 57