Dạo núi Nguyễn Hoàng 57
Hò đều hò vang, dzô,
Đi qua rừng hoang, dzô,
Băng suối băng đèo, dzô...
Không biết ai đã dạy cho các chú nhà trường bài hát này lúc nào,
nhưng hình như chú nào cũng thuộc bài này, những lúc đi dạo núi. Một
điều tôi biết chắc, đó là nhạc-sĩ Anh-Linh chưa từng chính-thức dạy
chúng tôi bài này. Bài hát mà anh đã rất tốn công để dạy chúng tôi là
bài:
Một đoàn trai ra đi biên giới
Bụi trường chinh bạc vai áo ai...
Có lẽ một anh em nào đó đã hát lên trong một dịp leo núi, rồi
những anh em khác thấy hay hát theo. Và cuối cùng nó trở thành bản
trường ca của anh em Sao-Biển nhân những cuộc đi dạo núi.
Hình như cứ mỗi chiều thứ tư và chúa nhật là chúng tôi được đi
dạo. Khi thì đi ra Bãi Sạn đá banh với nhau, lúc thì đi qua sân bắn
của trường hạ-sĩ-quan Đồng-Đế xem anh em quân-đội bên đó tập trận, tập
bắn, lúc thì đi qua sân banh của La-San đá với nhau hoặc thi đấu với
họ, lúc khác thì đi Hòn Chồng. Đại khái, đó là những nơi các chú nhà
trường thường đi dạo vào những buổi chiều như thế trước khi quay trở
về bãi biển quen thuộc của chủng-viện để tắm và về lại nhà trường.
Không biết tên thật sự của dãy núi này là gì. Các chú cứ tạm gọi
nó là núi Đồng-Đế cho tiện. Muốn đến đó, thường thì chúng tôi băng qua
Quốc-Lộ 1, đi vào Nghĩa-Trang Bắc-Việt. Đó là một nghĩa trang sát chân
núi và chạy dài dọc quốc lộ. Chúng tôi chẳng có ai thắc mắc về cái tên
gọi của nghĩa trang này cả. Chúng tôi chỉ thích cái dãy núi sau lưng
nó thôi. Sau khi vượt qua những đống đá ba-lông ( chúng tôi gọi thế
theo dân địa-phương về những viên đá đẽo vuông-vắn để làm móng nhà),
chúng tôi được hai thầy giám-thị thả tự do muốn đi đâu thì đi.
Đó là nơi chúng tôi có nhiều kỷ-niệm nhất. Núi rừng mà, thiếu gì thú vui chứ! Các chú tha hồ thi nhau trổ tài leo núi. Chú nào leo đến
đỉnh núi nhanh nhất sẽ được tuyên-dương là dũng-sĩ leo núi. Các chú,
nhất là các chú nhỏ khoái lắm. Ai mà không thích được khen chứ? Núi
này không có dốc lắm, sườn núi thoai thoải, cũng chẳng có cây to. Dưới
chân núi có những nơi thụt hẳn vào vì bị khai thác đá. Lưng chừng núi
có những chỗ có nhiều lùm cây rậm, nhưng cũng có những nơi chỉ trơ có
đất đá. Lên cao nữa chỉ có cỏ thôi. Tôi theo mấy chú nhỏ thi nhau leo
núi. Tuy tôi thuộc lớp lớn hơn, nhưng vì tôi tuổi còn nhỏ nên cứ bị mấy anh chàng lớn con đuổi đi như đuổi tà. Nhưng mấy chú nhỏ lại không
mấy thích tôi vì tôi không phải cùng lớp. Mặc kệ, dù sao theo các chú
nhỏ cũng còn khá hơn là đi theo mấy anh chàng cùng lớp. Ít ra thì tôi
cũng không bị ăn-hiếp.
Vừa được thả ra là tôi ba chân bốn cẳng trổ tài leo núi. Tôi có
thể theo những triền núi thoai thoải mà đi lên. Cách này cũng được,
nhưng không được nhanh lắm. Tôi thích nhảy qua các gộp đá hơn. Cách
này vừa nhanh, vừa khỏi trợt, lại vừa vui nữa. Chẳng mấy chốc tôi đã
lên được chỗ cao nhất. Tôi kiếm một gộp đá bằng phẳng ngồi xuống và
nhìn xuống la to một cách khoái trá:
"Ê, ê, lên đây cho mau, trên này mát lắm!"
Nhưng hình như chẳng ai để ý đến tôi cả. Mỗi người đều có sở
thích riêng. Họ chia ra từng nhóm, đi theo nhau lên những nơi họ muốn
đến. Thấy chẳng ai chú ý đến mình, tôi nằm sải dài một chút nghỉ mệt
rồi bắt đầu đi xuống với họ. Té ra tôi dại thật! Ở trên cao này, tuy
có thoáng mát, nhưng chẳng có gì vui cả. Ở lưng chừng núi mới có những
gì anh em thích. Ở đây bụi rậm rất nhiều, nên trái cây rừng nhân đó
cũng nhiều. Anh chàng nào bê-rê cũng đầy trái cây cả. Nhiều nhất là
trái chim chim. Tuy không được ngon lắm, nhưng cũng lạ miệng. Rồi đến
trái mồng gà; những trái này tôi chưa từng được nếm qua, nhưng ăn cũng
thật thú vị. Tôi được anh em cho mấy trái, rồi cùng theo anh em đi
kiếm thêm. Nhưng họ có cho tôi đi theo hoài đâu, nên tôi đành phải
tách bầy tự mình đi kiếm. Tôi làm cái gì cũng được, nhưng chuyện kiếm
cái ăn thì tôi dở không ai bằng. Ở đây còn một loại trái rất hiếm. Đó
là trái ngâu rừng. Trái này to và tròn như viên bi, lại còn ngọt thanh
không trái nào bằng. Chỉ có vài nơi mới có nó. Những anh em nào biết
cũng cố giấu ém nhẹm cho nhóm của mình. Nhưng tôi cũng kiếm được một
ít cam đường để bù lại.
Không phải lúc nào đi lên núi cũng là để hái trái cây cả. Kiếm cái gì
bỏ miệng là chuyện đương-nhiên, nhưng ở núi này còn những thứ khác
nữa. Một trong những thứ đã từng được anh em cố gắng tìm kiếm, đó là
'quít' và ong ruồi. Hai thứ này đã từng gây nên phong-trào, những
phong-trào lớn của chủng-viện như nuôi quy, bắt tôm-tít chích
phọoc-môn, nuôi cá xanh v.v...
Không hiểu anh em nào đã phát hiện ra trước giống quít này. Có
người gọi nó là con cam vì nó rất là to. Lúc nhỏ khi chưa đi học chủng
viện, tôi cũng thường hay đi bắt quít, nhưng quít ở đồng bằng nhỏ hơn
nhiều so với giống quít này. Con quít núi này to gần bằng ngón tay
cái, màu xanh biếc trông rất đẹp mắt. Nó chỉ ăn một loại lá cây không
biết tên gì, nhưng cũng dễ kiếm trên núi. Thế là cứ mỗi lần đi dạo núi
là anh em đổ xô đi tìm bắt quít về nuôi. Chai hũ gì cũng đều được đem
ra trưng dụng. Chú nào kiếm không ra chai thì hộp diêm quẹt cũng được.
Chỉ cực cho mấy thầy giám thị không ngủ được vì những con quít này. Cứ
đến giờ ngủ trưa là các chú lại đem quít ra ngắm rồi xì xào bàn tán
với nhau. Tôi cũng bắt được một vài con trong những chuyến đi này. Tôi
bỏ chúng trong một cái ve nhỏ để ở đầu giường. Cứ lâu lâu tôi lại mang
chúng ra ngắm nghía xem chừng nào chúng đẻ. Đương nhiên, điểm
hạnh-kiểm trong tháng của tôi không bao giờ cao lên được.
Phong trào thứ nhì là phong-trào nuôi ong. Tôi rất dở về môn
sciences naturelles, nhưng tôi lại thích thú trong khi học đến xã hội
loài ong. Thế rồi nhân một chuyến đi dạo núi, trong lúc tôi cùng một
nhóm anh em đi kiếm cam rừng, chúng tôi bỗng bắt gặp một tổ ong ruồi.
Đương nhiên, đời nào chúng tôi lại bỏ qua. Chúng tôi đi gom lá cây lại
un khói để lấy mật ăn. Đám ong sau khi hết khói tụ lại một cành cây
khác. Tôi đến quan sát thật kỹ và cuối cùng tìm được ong chúa. Thế là
tôi bắt lấy nó, kiếm một sợi chỉ và cột ngang lưng nó. Tôi bẻ một cành
cây cột nó vào và ngồi đợi. Chiều hôm đó tôi không đi tắm biển với anh
em. Tôi cứ ngồi đợi trên bãi biển chờ đến giờ về. Một anh em cùng lớp
đề nghị: "Mày cột sợi dây đó không chắc đâu. Phải là một cái ống có
đục lỗ bỏ nó vào mới được." Tôi không biết phải tìm cái ống ở đâu cho
kịp, vì cũng đã sắp hết giờ nghỉ. Trong lúc đang lúng túng bỗng một
anh bạn cùng lớp cho tôi một ống aspirine rỗng. Tôi lấy nước rửa sạch
sẽ, đục lỗ và nhốt con ong chúa vào bên trong. Tôi đem tổ ong máng lên
một chỗ trong nhà chơi các chú lớn. Chiều hôm đó sau khi ăn cơm xong,
trong lúc anh em đi tới đi lui chuyện vãn cho tiêu cơm trước giờ kinh
tối, tôi cứ lảng vảng ở nhà chơi xem tổ ong còn hay không. Tối hôm đó
tôi ngủ không được. Tôi những mong trời mau sáng để thăm chừng tổ ong
của tôi.
Tôi đã không giữ được tổ ong quý giá của tôi. Sau giờ lớp thứ
nhất ngày hôm sau, tuy chỉ có 15 phút giải lao, nhưng tôi cũng cố đi
nhanh vể chỗ tổ ong của mình. Ôi thôi, chẳng còn con ong nào cả, chi
còn trơ lại một cành cây khô với con ong chúa chết trong ống aspirine.
Tôi tiếc rẻ mãi , và quyết tâm sẽ đi tìm tổ ong khác. Đó là mùa ong
phân bầy, nên có rất nhiều bầy ong đi ngang qua ngôi trường của tôi.
Tôi lại bắt ong, tìm ong chúa, lại mất ong chúa, rồi lại đi tìm bầy
ong khác. Thậm chí có lúc tôi dùng cả cái mùng của tôi bắt cả bầy ong
mang về giường ngủ của tôi để lựa bắt ong chúa. Dĩ nhiên tôi không có
nhiều thì giờ, nên tôi đành phải ngủ chung với bầy ong của tôi. Chúng
ngủ trên một góc mùng và tôi nằm trên giường. Kết quả là gương mặt tôi
lúc nào cũng sưng lên vì bị ong cắn! Không những chỉ có tôi mới thích
đi bắt ong về nuôi, các chú khác cũng bắt chước. Thậm chí cả thầy giám
thị Thạnh cũng bắt được một bầy. Thầy chỉ cho chúng tôi cách bắt một
bầy ong đang bay qua. Thầy bảo: "Khi một bầy ong đang bay, chúng đều
bay theo một hướng nhất định. Nếu các em lấy kính rọi lên chúng, hoặc
giải cát lên chúng, thế nào chúng cũng đáp xuống một cây nào gần đó để
chỉnh đốn lại hàng ngũ trước khi tiếp tục bay đi nơi khác". Chúng tôi
đã nghe lời và rất là thích thú về khám-phá mới này. Tuy nhiên, chúng
tôi chỉ làm được đến đó thôi, và không một ai giữ được bầy ong nào cả,
kể cả Thầy Thạnh.
Không chỉ có các chú nhỏ mới thích leo núi. Các chú lớn cũng
vậy. Tuổi choi choi mà! Mấy anh chàng này hay tự cho mình đã trưởng
thành. Họ cho rằng họ có rất nhiều chuyện để nói 'khó' với nhau mà
không muốn các chú nhỏ đến phá! Lần nào cũng vậy, sau một lúc lùng sục
tìm trái rừng hoặc đi bắt quit như chúng tôi, bọn họ đều quy-tụ trên
đỉnh núi. Tôi ít khi đi một mình lên đó. Thứ nhất, trên đó chỉ có cỏ
xanh không có thứ gì để kiếm chác cả. Thứ nhì, tôi sợ cọp. Nghe đồn
cọp Khánh Hòa dữ lắm, và chúng thường hay xuất hiện ở nơi núi cao vắng
vẻ như thế. Tuy vậy tôi vẫn cứ tò mò không biết bọn họ bàn luận những
gì. Biết rằng họ luôn luôn tụ họp ở trên đó, nên có lần tôi tìm cách
lảng vảng nơi họ tụ họp để lắng nghe xem họ bàn với nhau những gì. Lần nào
cũng vậy, tôi bị đuổi đi ngay với một câu: đi chỗ khác chơi! Con nít
mà đòi nghe chuyện người lớn! Chuyện gì là chuyện của người lớn chứ?
Mình cùng học chung với nhau mà! Tại sao mình chưa là người lớn chứ?
Hay tại mình nhỏ con hơn họ! Làm tàng quá cỡ! Tôi vừa đi xuống núi vừa
lầm bầm trong miệng.
Đi dạo núi đúng là thú vị. Nhưng núi rừng mà! Thiếu gì những
nguy-hiểm đang chờ! Rắn rết cũng nhiều mà tai nạn cũng không thiếu.
Chúng tôi cũng có đôi lúc bắt được rắn lục và rết núi, bò cạp núi.
Chúng tôi mang chúng về như chiến lợi phẩm được trưng bày ở các nhà
chơi! Tôi thấy chúng ghê thật, nhất là những con rết và bò-cạp núi.
Chưa bao giờ tôi gặp những con to như vậy ở đồng bằng! Cũng may là
chưa đứa nào bị chúng cắn cả, nếu không chắc Cha Cảnh có nhiều việc
làm rồi! Tuy tôi chưa gặp những thứ đó, nhưng không có nghĩa là tôi
không gặp tai nạn. Trẻ con mà! Dù là đi tu, nhưng sự tinh nghịch của
trẻ con bao giờ cũng vậy, những thứ mà người lớn không bao giờ ngờ
tới.
Lần đó là một chiều chúa nhật năm 1958, năm học đầu tiên tại
ngôi trường mới. Tôi học lớp 6. Lớp tôi thuộc lớp trung-gian. Lớn nhất
là lớp nhì của mấy anh Thạnh, Thượng. Thứ nhì là lớp 4 của
Châu, Phong, Nghiệp, Sơn, rồi đến lớp 5 của anh Nguyễn-văn-Hòa, anh họ
tôi. Hình như lớp 4 được gửi học ở Phan-Xi-Cô, và lớp 5 được gửi học ở
La-San thì phải. Tuy được gửi học ở những nơi đó vì Tiểu-Chủng-Viện
thiếu lớp, nhưng họ vẫn ăn ngủ tại chủng-viện vào những lúc không đi
học. Dĩ-nhiên, những cuộc đi dạo này làm sao thiếu mặt họ được. Dưới
lớp tôi còn có lớp 7, và lớp 8 mới nhập học. Cũng như thường lệ khi đi
dạo núi, chúng tôi khai thác những gì chúng tôi chúng tôi có thể khai
thác được. Thét rồi cũng chán! Một số anh em tìm cách nghĩ ra các trò
chơi mới. Ở đó có những chỗ bị nước xói lở từ lưng chừng núi. Những
đoạn này trông rất rõ nếu nhìn lên từ quốc-lộ. Có những nơi thật là
dốc, nhưng cũng có những chỗ cũng khá lài lài. Trong lúc các chú lớn
đang bận nói 'khó' với nhau trên đỉnh núi, hoặc kiếm những lùm cây mát
nằm nghỉ chờ còi xuống núi của các thầy giám thị, các chú nhỏ lớp 8,
nhất là mấy chú Ba-Làng, cùng nhau bẻ các cành cây nhỏ bện thành một
chiếc xe trượt nhỏ rồi thay phiên nhau ngồi lên trên để trượt xuống
núi. Chỗ này cũng khá lài nên trò chơi này khá thú vị. tiếng la hét
vui đùa của anh em vang vọng một góc núi. Lúc đó tôi đang đi tìm hái
chim chim gần đó nên thấy cái trò đó hay hay. Tôi dựa theo vách núi
đến chỗ mấy anh em đang đứng reo hò. Tính trẻ con nổi lên, tôi cũng
muốn tham gia trò chơi thú vị này. Thế là chúng tôi giành nhau thi
trượt núi. Tôi đi được một lần nên muốn đi lần nữa. Còn gì thú vị hơn
nữa chứ! Cũng giống như mấy anh chàng biệt động đội ở trường
Biệt-Động-Đội (tên cũ của trường Hạ-Sĩ-Quan sau này) đi dây tử thần.
Muốn trượt xuống núi phải ngồi đúng thế: Hai chân xuôi tới trước,
người nghiêng về đàng sau để lấy thăng-bằng.
"Đến phiên tao! Đến phiên tao!"
Tôi vội lấy cái xe trượt dã-chiến của một chú vừa trượt xong.
Tôi cẩn thận đặt nó xuống chỗ hơi bằng bằng, rồi ngồi lên vừa níu lấy
một cành cây nhỏ gần đó để giữ cho cái xe khỏi chạy trước khi tôi sẵn
sàng. Không rõ một chú nào đó, có lẽ vì nôn nóng đến phiên mình
hay sao đó, đẩy vào lưng tôi một cái thật mạnh. Thế là tôi mất
thăng-bằng, chúi nhủi về phía trước và bắt đầu lăn xuống dốc trước sự
la hoảng kinh hoàng của các anh em trên dốc. Tôi sợ quá, cứ theo bản
năng tự vệ, hai tay bảo vệ lầy đầu, chân co quắp lại, và để cho thân
mình tôi muốn lăn đâu thì lăn. Người tôi tròn lại như bánh xe và cứ
thế lăn nhanh xuống dốc. Tôi không biết mình đã lăn bao nhiêu vòng,
nhưng biết rằng mình lăn nhanh lắm. Có đôi lúc tôi cảm thấy mình như
bị nhấc bỗng lên không một lúc lâu trước khi chạm xuống đất và tiếp
tục lăn. Cuối cùng rồi tốc độ lăn của tôi chậm dần và chuyến du-hành
của tôi chấm dứt. Tôi nằm sóng soài dưới đất một lúc rồi mở mắt ra. Có
tiếng la hoảng và rồi tiếng chân rầm rập chạy đến. Tôi thấy hai thầy
giám thị đang hối hả chạy đến. Tôi cố sức ngồi dậy, nhưng hình như sức
lực của tôi chạy đi đâu mất cả. Tôi định chống tay ngồi dậy, nhưng
hình như cánh tay trái của tôi không sử-dụng được. Tôi xoay người qua
bên phải, dùng cánh tay phải chống xuống đất và ngồi dậy được trước
khi hai thầy giám thị đến nơi.
"Hoàng, con có sao không?" Cả hai thầy giám thị đồng lên tiếng,
vừa ngồi xuống xem xét.
Tôi không trả lời được câu nào vì quá hoảng sợ. Chẳng bao lâu,
anh em của tôi, những anh em gần nhất trước, rồi những anh em khác lục
tục kéo dến. Mỗi người đều lo-lắng hỏi một câu. Thật là lộn-xộn. Nếu
bình thường chưa chắc tôi đã trả-lời được, huống chi là lúc này. Hai
thầy giám thị đỡ tôi đứng lên, cởi áo sơ-mi tôi ra và tiếp-tục xem xét
vết thương. Hai cánh tay tôi không bị gãy xương, chỉ bị trầy da xoàng
thôi. Nhưng hình như một khớp xương đòn gánh của tôi nơi gần cổ bị
trật, có lẽ khớp kia cũng bị trật nữa. Tạm thời, chỉ thấy như thế, chì
chỗ đó sưng lên bầm tím như quả trứng gà.
"Có chú nào biết tại sao chú Hoàng lăn xuống núi không? Một thầy hỏi.
"Thưa thầy, anh ấy vừa ngồi vào cái rế cỏ để trượt núi là xảy ra
chuyện. Không hiểu vì sao anh ấy mất thăng bằng và lăn tròn xuống núi.
Chúng con sợ muốn chết. Thấy anh ấy bồng lên bồng xuống, tưởng đâu sẽ
táng vào đống đá ba-lông này rồi chứ! Cũng may là không đến nỗi nào!"
Không biết ai đã lên tiếng trả lời.
Lập tức một thầy giám thị lấy còi ra thổi từng hồi gọi các chú
xuống núi, mặc dầu chưa đến giờ về. Trong lúc chờ anh em lục-tục xuống
núi, tôi ngồi xuống một tảng đá ba-lông gần đó. Nhìn đống đá cao chất
ngất, tôi bỗng giật mình. Không lẽ mình vồng qua cả đống đá này sao?
Nếu chạm vào đó một chút thôi là coi như mình đã tu xong rồi! Thật là
một phép lạ của Chúa quan-phòng! Lúc này cánh tay tôi mới bắt đầu đau
nhức. Tôi cố bậm môi lại chịu nhưng cũng cảm thấy ứa nước mắt. Ước gì
phải có má mình đây hoặc chú Chín mình đây để mình khóc cho đã!
Tôi được cha Cảnh chăm sóc tận tình. Tuy cha nóng nảy, nhưng
lại rất tận tình với các con bệnh. Tôi được chích thuốc giảm đau, và
mấy ngày sau, trong lúc tôi còn nằm ở bệnh xá, tôi được má tôi đến
thăm mang theo thuốc trặc đả của ông Ba Thăm. Má tôi vừa khóc vừa
trách móc tôi tại sao chơi dại như vậy! Tôi cũng thấy mủi lòng đôi
chút, nhưng đồng thời cũng cảm thấy mở cờ trong bụng vì tình thương
của mẹ mình.
Đây không phải là lần đầu tôi suýt chết trong những tai nạn lúc
đi chơi núi. Trước đây, lúc còn ở chủng-viện Làng-Sông, tôi cũng đã
gặp một tai-nạn tương tự khi đi chơi núi Xương-Cá. Năm đó là năm học
đầu-tiên và cũng là cuối cùng của tôi tại Làng-Sông. Cha Bề Trên là
cha Nghị, chú Chín tôi và thầy Phận ở Cây-Vông là giám thị. Chúng tôi
thường đi dạo ở núi Kỳ-Sơn. Nhưng có một lần chúng tôi được cho đi
chơi ở núi Xương Cá. Ngọn núi này thật đúng như tên gọi, toàn là đá
không, chẳng có bao nhiêu cây cỏ cả. Tôi cũng đã bị một anh bạn nào đó
xô, lỡ đà nên phải chạy thẳng xuống một vực sâu. Chú tôi lúc đó đang
ngồi chơi ở lưng chừng núi, ngay hướng chạy xuống của tôi. Chú tôi
không nói gì, có lẽ vì quá hoảng-sợ, chỉ thấy người đứng dậy đưa tay
cố níu tôi lại. Vì khoảng cách còn hơi xa, nên người chỉ nắm được tay
áo của tôi. Nhưng người không chận tôi lại được, chỉ xé được tay áo
sơ-mi của tôi thôi. Tôi cũng thật hoảng sợ nói không nên lời. Phía
dưới cách chỗ tôi đang chạy không xa là một vực thẳm, không biết sâu
như thế nào. Tôi những muốn dừng lại, nhưng không được. Nhưng rồi
không hiểu vì sao có một sức lực nào đó làm tôi ngồi xuống, đưa hai
chân trước ra phía trước. Tôi tiếp tục trượt xuống về hướng thung
lũng. Cũng thật là may, trên hướng chuồi xuống của tôi, tôi gặp một
tảng đá khá lớn. Tôi chuồi đến ngay tàng đá đó và đạp ngay vào đó.
Tảng đá rơi ngay xuống vực và mãi một lúc sau mới có tiếng vọng lên.
Tôi vẫn tiếp tục chuồi xuống nhưng với tốc độ chậm hơn. Cuối cùng tôi
dừng lại ở mép vực, chân tôi thòng xuống. Tôi không dám nhúc nhích vì
sợ lọt xuống vực. Chú tôi bảo tôi ngồi yên, rồi cùng một số chú lớp 7
nắm tay nhau chuyền xuống lôi tôi lên. Lần đó không như lần này; tôi
chỉ có hoảng sợ, nhưng không bị việc gì!
Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về hai tai nạn này. Toàn là tai-nạn có
thể chết người! Nếu Chúa không ra tay nâng đỡ thì không cách gì tôi
sống sót cả. Tôi kết luận là Chúa đã gìn giữ tôi vì một mục-đích nào
đó. Tôi rất tự tin về việc này. Sau này khi đi hành quân, tôi không
bao giờ đội nón sắt và áo giáp cả nếu không ai bắt buộc. Năm 75, lúc
di-tản về hướng Chu-Lai, Quảng-Ngãi, tôi cũng chẳng hề vội vã như mọi
người; tôi cứ đi bình thản trên quốc-lộ, vì tôi tin chắc Chúa sẽ gìn
giữ tôi không việc gì. Lúc ở tù cải tạo, có một lần tôi bị bệnh suýt
chết. Anh em trong tù ai cũng đoán như vậy. Chỉ có tôi là không tin
tôi lại chết dễ như thế! Không thuốc men, không thăm nuôi, nhưng tôi
đã hết bệnh! Nhưng Chúa muốn tôi làm gì cho ngài? Đó là một câu hỏi
rất to trong đầu của tôi, lúc nào cũng vậy, ngay cả lúc này! Nhưng thú
thật, tôi chưa có câu trả lời.
Nguyễn Hoàng 57
|