Ăn no và ăn ngon Trần Duy Thực 65
1) Ăn no và ăn ngon
Tôi đang mơ. Mơ rằng vườn Sao Biển sẽ có những bông hoa đẹp. Mơ rằng tư tưởng sẽ như cây cỏ bốn mùa nở hoa. Tôi đang mơ mỗi người anh em mình sẽ cầm bút viết. Sẽ viết những trăn trở, những tâm tư, những tìm tòi khảo cứu. Tôi đang mơ rằng những tư tưởng bóng bẩy và đồ sộ nhất chưa hẳn là những tư tưởng đẹp nhất. Và tôi cũng đang mơ trong vườn hoa tư tưởng đó, ta sẽ dựng nên ba lều… Để làm gì?
Để ăn và nhậu! Có người nói suy nghĩ mần chi cho mệt óc. Rốt cuộc rồi cũng thế! Philo c’est folie! Nếu tôi hỏi lại quý bạn đó làm bếp núc mần chi cho mệt, thì anh ta sẽ trả lời tôi liền: “anh chàng này khùng rồi!” Chứ không phải sao? Bày vẽ mần chi, rốt cuộc rồi cũng vô bụng hết ráo. Thì cũng y như lý luận mần chi… Con người sống không phải để ăn, nhưng ăn để sống. Nhưng nếu có dịp và phương tiện ăn cho sành điệu thì vẫn hơn. Bát sạch ngon cơm. Thì cái suy luận cũng rứa. Chẳng là gì, nhưng cái hạnh phúc vẫn là cái lúc đang suy luận. Con người là cây sậy biết suy tư. Bởi thế tôi mới hãnh diện làm con người.
Chưa biết có thật là ngon hay không, nhưng cũng cố gắng mời anh em ăn món khai vị. Cũng là lời mời tham dự vào cuộc đối thoại, bàn cãi giữa anh em với nhau. Đối thoại để thông cảm. Bàn cãi để xây dựng. Deo gratias.
2) Một mẫu đối thoại Sao Biển
Sao Biển số một nói:
- Mình đang đọc lại bài cậu viết về triết lý bát nhã và thần học phủ định. Cậu có đặt câu hỏi tại sao lại phân biệt mặc khải với cái tâm hướng thượng. Ý tưởng về “cái tâm hướng thượng” đó cậu lấy từ đâu?
Sao Biển số hai trả lời:
Chữ "tâm hướng thượng" đó cũng chỉ là một cách diễn đạt. Xin tuần tự nêu ra cách mình thấy được trong đạo Phật:
1) Ngã Tâm: một khi còn bị màn u minh che đậy thì thấy tâm mình là của riêng mình, của cái ngã vị kỷ. Lúc đó, cứ tưởng là cái tâm của mình là có thực, hiểu như là một thực thể độc lập.
2) Tâm hoặc Tâm Không: một khi đã ngộ, thì thấy rằng cái tâm của mình đó không hề độc lập. Nếu dùng hình ảnh thì cái tâm khi đại ngộ đó giống như một vòng tròn không chu vi, trải dài từ mình đây tới vô tận. Và lẽ dĩ nhiên, cái tâm của mình đây không phải là trung tâm điểm của vòng tròn.
Nếu lấy một hình ảnh khác nữa là con sóng. Có lẽ bác còn nhớ bài hát của Trịnh công Sơn: "biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người. Biển sóng đừng xô nhau, ta xô biển lại sóng về đâu?" Tâm giống như một con sóng. Thoạt nhìn thì nó độc lập, nhưng nghĩ cho cùng thì nó liên đới với mọi con sóng khác (tiếng Pháp dịch là interdépendance). Và nhất là nó gắn liền với đại dương sâu thẳm ở phía dưới. Cái tâm thực thụ là đại dương chứ không phải con sóng. Con sóng chỉ là bọt bèo, cái phần nổi chóng qua.
Bây giờ thì xin quay lại triết học tân-Platon để đưa dần về đạo của mình. Theo Plotin, linh hồn của mỗi người vốn ở thế giới ý tưởng và thần linh (le monde spirituel), nhưng khi linh hồn còn ở dưới thế, trong thế giới cảm giác (le monde sensible) thì linh hồn vẫn luôn tưởng nhớ về thế giới trên cao gốc gác của mình (le monde là-haut). Linh hồn sẽ tìm mọi cách để trở về nguồn gốc của mình là sự Toàn Hảo (le Bien), và để kết hợp với sự Toàn Hảo nhờ ân sủng (grâce).
Đó là ý nghĩa của chữ "hướng thượng" mà Thực đã dùng. Cái tâm hướng thượng là cái linh hồn muốn tìm lại nguồn gốc của mình, muốn kết hợp với cái Một, tức là sự Toàn Hảo. Nhưng chính Plotin cũng nói rằng cái thế giới thần linh ở trên cao đó không ở đâu khác mà nó chính ở trong lòng của mình.
Như thế, nếu có khác biệt giữa tư tưởng Phật giáo và tư tưởng của Tây Phương thì cái khác biệt nằm ở đấy, nhưng cái khác biệt đó rất mong manh:
- Linh hồn tây phương là một cá thể riêng biệt. Linh hồn phải ý thức được rằng mình không sống trong thế giới thực của mình, và thế giới thực của mình là thế giới trên cao. Nhờ grâce (cả 2 nghĩa ân sủng và duyên dáng) mà linh hồn có thể trở về hợp nhất được với cái Một, tức là sự Toàn Hảo.
-Tâm theo Phật giáo tưởng rằng mình là một cá thể riêng biệt. Nhưng thực ra Tâm đó là "một phần" của cái Tâm vô bờ vô bến. Ngộ là sống cái Một , cái Tâm như đại dương đó trong lòng mình.
Tạm nghĩ rằng cách diễn đạt khác nhau đó tuỳ ở góc độ mình nhìn vấn đề:
Tây Phương nhìn vấn đề lúc chưa thức tỉnh, lúc còn ở trong thế giới cảm giác (le monde en-bas, le monde sensible), nhưng Tây Phương cũng nhìn nhận rằng khi xuất thần thì không còn phân biệt được đâu là linh hồn của tôi, đâu là cái Một.
Đông Phương nói chung và Phật giáo nói riêng thì nhìn vấn đề khi đã đại ngộ, tức là lúc mình xuất thần, lúc mình đã hợp nhất với cái Một. Vạn sự quy ư nhất. Lúc đó, không còn phân biệt được tâm riêng mình và tâm của vũ trụ. Còn cái tâm đang sống trong khổ đau đây là cái tâm chưa sống được chân lý.
Như thế đó. Một bên thì cái nhìn từ dưới lên. Một bên thì cái nhìn từ trong sâu thẳm mà ra. Nếu có khác thì khác như thế.
Tuy mình không hoàn toàn đồng ý với P. Hadot, nhưng Thực xin trích theo đây một đoạn trong cuốn "Plotin ou la simplicité du regard" của Pierre Hadot. trang 43-44. Folio Essais. Gallimard 1997:
L'expérience intérieure plotinienne nous révèle donc ainsi des niveaux discontinus de notre vie spirituelle. Dispersés dans les soucis et les préoccupations de la vie quotidienne, nous pouvons d'abord nous concentrer vers l'intérieur, diriger notre attention vers les choses d'en haut, reprendre conscience de nous-mêmes. Nous découvrirons alors que, parfois, nous pouvons nous élever à une unité intérieure plus parfaite, dans laquelle nous atteignons notre véritable moi vivant et réel dans la Pensée divine. Arrivés de ce niveau, nous toucherons peut-être à un état d'unité indicible, dans lequel nous considérons mystérieusement avec la simplicité absolue d'où procède toute vie, toute pensée et toute conscience.
Mais ces niveaux ne s'abolissent pas les uns les autres: c'est leur ensemble, leur interaction qui constituent la vie intérieure. Plotin ne nous invite pas de l'abolition de la personnalité dans le nirvâna. L'expérience plotinienne, tout au contraire, nous révèle que notre identité personnelle suppose un absolu indicible dont elle est à la fois l'émanation et l'expression.
Sao Biển số một lại tiếp:
- Mình đang suy nghĩ về hình ảnh con người như một người lữ hành lang thang đây đó giống như những gì Edgard Morin có bàn trong cuốn sách “la terre, astre errant”. Rằng là con người khi truy tìm chân lý, không phải bằng một con đường mà bằng nhiều đường khác nhau. Nhưng thực ra, chẳng có hướng nào cả, vì khi nói về Tuyệt Đối thì như cậu đã nói “mọi khái niệm trên dưới đều không ý nghĩa gì. Và như thế con người sẽ lang thang, không định hướng nếu không có ơn trên… Trong khi đó, con đường của đức tin xem ra có định hướng rõ rệt. Nhưng cậu có viết rằng không ai sở hữu Tuyệt Đối, nên cứ phải đi tìm. Ý tưởng “hành giả của Thiền rất hay bởi vì vừa thấy chân lý của mình, nhưng phải từ bỏ liền, để bước bước khác mà tiến tới. “Chân lý của mình” phải hiểu như thế nào? Những gì đã thủ đắc có phải là chân lý hay không? Tại sao gặp chân lý lại phải từ bỏ liền? Trên con đường đức tin, con người xem ra cũng lang thang, nhưng đức tin mách bảo là có Thánh Linh luôn bảo trợ… Cậu nghĩ thế nào?
Sao Biển số hai lại có dịp thao thao bất tuyệt:
- Thưa rằng Bát Nhã của Phật giáo bàn về Không tánh. Phải hiểu chữ không ở đây như một phủ định. Luôn phủ định tương đối. Mình thích hình ảnh “homme debout” của bác. Đứng, đi và sống. Con người từ thân phận con vật bốn chân đã đứng lên, ngẩng mặt nhìn đời. Rồi đi tới trước để tìm chân lý. Bước một bước chắc chắn rồi, nhưng không ngừng ở đó. Vì nếu ngừng ở đó thì mình đã ngừng ở tương đối. Vì chân lý loài người luôn tương đối.
Như thế, Không là hành trình đi về tuyệt đối. Lý luận về Không là lý luận về tuyệt đối. Và tuyệt đối là tất cả, là tổng thể, là cái Một mà vạn vật phải quy về. Vạn sự quy ư nhất. Bác có bàn về Edgar Morin và quan niệm về complexité của ông ta. Nếu mình hiểu không sai thì ổng nói rằng thế giới phức tạp, có quá nhiều vấn đề, nên phải có cái nhìn tổng thể bao quát. Thì bên Phật giáo họ có phương pháp để giúp tiếp cận cái tổng thể bao quát đó.
Ông Morin nhận định là thế giới quá phức tạp. Ông nói rằng không nên quá thiên về esprit analytique của Descartes, nhưng cũng cần phải có cái nhìn trực giác của Bergson. Phật giáo cũng thế. Khi quán về Không thì có 2 cách (viết theo Thích Thiện Siêu trong cuốn Luận Đại Trí Độ, tức là luận về Bát Nhã):
1) Tích không quán: tức là quan sát và phân tích về vạn vật vô hình cũng như hữu hình, để thấy rằng vạn pháp (vạn vật) giai không, có nghĩa là vạn vật không tự nó mà có. Nếu vạn vật có được là do nhân duyên tạo thành. Nhân là nhân quả. Duyên là duyên khởi.
2) Thể không quán: cũng có thể gọi là trực quán. Tức là tiếp cận trực tiếp Không tánh. Xin mở ngoặc, chữ Tánh của Phật giáo phải hiểu như là bản thể. Có người dịch dasein của Heiddeger là hiện tánh. Tánh cũng thường dùng như là chân tánh, bản thể tối hậu, tuyệt đối. Còn bản thể tương đối thì nhà Phật thường dùng chữ Tướng.
Làm thế nào để tiếp cận trực tiếp cái Không?
Đây mới là vấn đề chính. Quay trở lại nhận xét của Morin, vì quá phân tích nên mình đã xé nhỏ vấn đề, và do đó thiếu cái nhìn tổng thể. Nhà Phật thì chủ trương bất nhị. Bất nhị là không có ý thức nhị nguyên, tức là đầu óc phân tích. Nói một cách khác, phân tích chỉ đưa tới chân lý tương đối thôi. Cho nên khi nhà Phật nói vô niệm là phải hiểu trong bối cảnh đó. Cái bối cảnh của tiếp cận trực tiếp với tuyệt đối. Vì một niệm phát sanh là đã lâm vào suy luận nhị nguyên. Bởi thế, vô niệm thì chẳng sanh chẳng diệt. Nên mới gọi là Thường. Thường như thường hằng, luôn hiện hữu. Le présent éternel.
Cụ thể thì phải làm như thế nào để tiếp cận cái Không. Hành giả để Không trong lòng. Thường là ở ngay một trung khu thần lực. Bên Ấn Độ và Tây Tạng họ thường để ở giữa 2 con mắt. Bên Nhật thì họ để ở hạ đan điền ở bụng dưới. Lúc nào cũng tập trung tư tưởng về Không. Tập trung nhưng không phân tích. Một niệm, nhưng niệm đó là Không, tức là không niệm. Ăn cũng không, ngủ cũng không, đái ỉa cũng không. Cho tới khi mình làm Một với cái Không, tức là lúc đạt ngộ. Nhưng Không cũng phải hiểu như vô trụ. Tức là cũng không phải lấy Không làm Có…
Bên Công giáo mình tiếp cận tuyệt đối như thế nào?
Lẽ dĩ nhiên là có nhiều cách. Một cách thức của các nhà chiêm niệm là sống Tình Yêu. Thiên Chúa là người tình. Tuyệt đối là người tình. Dù làm bất cứ chuyện gì thì cũng chỉ nghĩ tới Người Tình đó. Lẽ dĩ nhiên, khi sống Tình Yêu thì không còn phân tích gì nữa cả. Và như thế, khi xuất thần, các thánh chiêm niệm đã đạt tới cảnh giới:
Je suis entré où ne savais
Et je suis resté ne sachant
Toute science dépassant (St Jean de la Croix)
Trực chỉ chân tâm.
Bát Nhã là căn bản của Thiền. Thiền chủ trương: trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật. Thiền cũng nói thêm: giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.
Bởi thế, khi còn phân biệt dù đó là “ơn trên” hoặc là “Thánh Linh bảo trợ” thì nhà Phật vẫn xem đó là còn vướng vào lý luận nhị nguyên. Không lạ gì khi vẫn nghe họ thường nói “gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ”. Cũng có nghĩa là vô niệm, tức là bất nhị.
Lẽ dĩ nhiên, Bát Nhã và qua đó là Thiền, không chỉ chủ trương tự lực, tức là chỉ nhờ sức mình. Thiền cũng chủ trương tha lực. Tha lực là nhờ ơn trên, Thánh Linh phù hộ. Nhưng Thiền chú trọng nhiều hơn về tự lực.
Quay lại đạo Công giáo. Khi làm Một với Tình Yêu tuyệt đối, thì như thánh Gioan thánh giá đã nói: toute science dépassant. Vượt quá tầm hiểu biết của con người. Và như thế là phủ định tri thức tương đối của loài người. Không còn phân tách, không còn thần học, không còn… nếu mình gọi là “bất lập văn tự” thì có sai lắm không?
Không hiểu anh em ăn tới đâu rồi. Có lẽ một vài anh em nuốt không vô. Cơm cháy thì ngon thì giòn, nhưng nhiều quá cũng khó tiêu. Thì xin mời anh em nấu một bữa thịnh soạn khác. Nhiều khi cũng chẳng cần phải cao lương mỹ vị. Rau muối dưa cà cũng ngon miệng và sống qua ngày.
Thân ái.
Trần Duy Thực 65
|