Biết suy nghĩ là biết ơn Lm. Nguyễn Khoa Toàn 67
Khi còn bé, mỗi lần đến mùa Chay, tôi ghét vô cùng. Chẳng những phải đọc kinh lần hạt nhiều hơn, mà còn phải ăn chay kiêng thịt nữa. Đọc kinh lần hạt thì không ngại lắm, được thêm ơn ích, nhưng cái khoản kiêng thịt và ăn chay thì eo ôi, khó và khiếp quá!
Kiêng thịt thì còn đỡ, vả lại “xuân thu nhị kỳ” may ra mới có miếng thịt mà ăn, nên nếu phải kiêng thì chẳng “nhằm nhò” gì, nhưng ăn chay thì thú thực, vất vả vô cùng. Tôi vẫn còn nhớ mỗi buổi sáng trước khi đi học, mẹ tôi thường cho tiền ăn sáng. Nhưng vào mùa Chay thì bà cụ nhất định không cho một xu nào hết.
Nhiều khi tôi phải nói dối, uốn lưỡi Tô Tần, tìm đủ mọi lý do để bà cụ mủi lòng cho chút tiền còm ăn sáng. Hôm thì tiền học phí gia tăng; hôm thì cứu nạn nhân bão lụt; hôm thì giúp cô nhi quả phụ… Ôi thôi bao nhiêu kế sách trong binh pháp Tôn Tử tôi lôi ra hết, tìm đủ mọi cách, tốt có, xấu có, để lấp đầy cái bao tử háu ăn của cậu con trai tuổi đương xuân mới lớn.
“Có thực mới vực được đạo” – sao lại phải nhịn ăn, nhịn uống cơ chứ? Ăn chay: Forget it!
Rồi trải qua bao nhiêu dâu biển của cuộc đời, tay áo xắn cao đối đầu với những thực tế rất phũ phàng của đời sống, tôi mới nghiệm được rằng ăn chay nào có phải giản đơn là kiêng ăn bớt uống đâu!
Ăn chay biểu tượng cho khả năng suy nghĩ, hoặc nói theo kiểu triết học - khả năng tư duy. Ăn chay, vì khác với loài vật hành động theo bản năng, con người hành động theo lý trí. Có thể nào chúng ta ra lệnh cho con chó, con mèo: “Mày phải kiêng ăn vì đã vào mùa Chay!” Nhưng chúng ta nói được điều đó với con người và chỉ với con người.
Chúng ta được sinh ra giống hình ảnh Thiên Chúa và vì chúng ta có khả năng tư duy, chúng ta biết chế ngự những đòi hỏi thèm muốn xác thịt. Chúng ta, qua lý trí, biết tự chế và biết phân biệt điều tốt phải làm và điều xấu phải tránh.
Mùa chay nhắc nhở chúng ta là người, và là người được Thiên Chúa tác thành từ bụi tro, một mai kia, chúng ta cũng sẽ về với bụi tro.
Triết gia Phạm Công Thiện có lần đã đặt câu hỏi là “chúng ta có khả năng nhìn trước khi có đôi mắt, hay chúng ta có đôi mắt trước khi có khả năng nhìn?”
Mùa Chay năm nay, cho phép tôi đặt thẳng câu hỏi này với mỗi thành viên trong cộng đồng: chúng ta có khả năng nghĩ suy trước khi có bộ óc, hay là chúng ta có bộ óc trước khi có khả năng nghĩ suy? Nếu có ai đó nghĩ rằng chúng ta có bộ óc trước, thì thôi, hãy dừng lại nơi đây…
Nhưng nếu chúng ta tin rằng chúng ta có khả năng nghĩ suy, hoặc khả năng tư duy trước, thì chúng ta đã phần nào thẩm thấu được mầu nhiệm của đời sống con người. Chúng ta không thể là người nếu chúng ta không có khả năng tư duy. Hoặc nói như nhà văn Đào Trường Phúc: “Người ta chỉ sống đầy đủ và trọn vẹn chừng nào người ta tiếp tục sống suy nghĩ trong sự tự do tuyệt đối của tâm thức.” Thực thế, nếu chúng ta để cho người khác suy nghĩ giùm thì chúng ta đã không sống “đầy đủ và trọn vẹn” đời sống con người nữa. Chúng ta chỉ là một vườn bắp biết đi, không hơn không kém!!!
Như thế, chúng ta mới hiểu đủ tầm quan trọng và thiết yếu đến chừng nào của khả năng tư duy. Quan trọng và thiết yếu đến độ mà triết gia người Pháp Blaise Pascal đã viết là ông ta có thể tưởng tượng một người không đầu, không chân không tay, nhưng ông ta không thể nào tưởng tượng nổi một người không có khả năng tư duy.
Hãy có tư duy. Hãy sống tư duy. Mãi mãi có tư duy. Mãi mãi sống tư duy. Vì từ bỏ khả năng tư duy là từ chối sống thực đời sống con người. Và rồi chúng ta sẽ rơi vào hố sâu của những cực đoan và giáo điều. Khả năng tư duy của chúng ta, theo nhà văn Long An, sẽ “bị đóng khung" và những suy nghĩ của chúng ta sẽ “bị điều kiện hoá”.
Steve Wonder, một ca sĩ mù người Mỹ với giọng hát rất liêu trai, thổn thức: “Tôi hát để các bạn có thể nhìn!” Một người mù giúp chúng ta nhìn!? Mùa Chay Thánh năm nay, mỗi một chúng ta phải quyết tâm rằng: Chúng ta phải tư duy, và phải thay đổi cách tư duy, bởi vì chúng ta không thể sống một đời sống công giáo chân chính - một con người biết nghĩ suy - bằng những tích lũy của một con người chậm tiến.
“Denken ist Danken”: "Thinking is Thanking": Biết suy nghĩ là biết ơn, Martin Heidegger - một trong những nhà tư tưởng lớn của thế kỷ trước - đã viết như thế. Nói một cách khác, biết sống tư duy là biết sống vinh danh, không những cho riêng chúng ta, cho gia đình chúng ta, mà còn cho cả cộng-đồng-dân-tộc-giáo-hội, bởi vì không còn sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng nữa. Những bất hạnh và vinh quang của cộng-đồng-dân-tộc-giáo-hội cũng là những bất hạnh và vinh quang cho mỗi người chúng ta.
Biết tư duy là biết chân nhận ra những hạn hẹp có thực của mình và sống với một tinh thần luôn cầu tiến. Điêu khắc gia Auguste Rodin - người tạc bức tượng nổi tiếng “The Thinker”- đã viết là nếu chúng ta muốn thay tên Giêsu thì chữ duy nhất có thể thay thế được là “điêu khắc”! Chúng ta có ngạc nhiên lắm không, bởi vì đời sống công giáo chân chính là đời sống được gọt giũa theo những yêu cầu hằng ngày của đời sống. Của từng phút, từng giây.
Cách đây mấy hôm, có một người bạn trẻ hỏi tôi về đạo “Giêhôva”. Thú thật, tôi không rõ lắm về tôn giáo này, nhưng tôi đã trả lời rằng, có rất nhiều con đường đi đến Wollongong, nhưng chắc chắn phải có một con đường ngắn nhất. Đúng nhất. Đòi buộc nhất. Phấn đấu nhất. Tùy chúng ta chọn. Nhưng dẫu cho chúng ta chọn con đường nào, hành trang duy nhất chúng ta cần phải mang theo là những gì chúng ta biết, chỉ một phần chân lý.
Nói một cách cụ thể hơn, chúng ta chỉ có thể nhìn một bức tranh từ một góc cạnh nào đó, và muốn có cái nhìn tổng hợp, toàn thể, chúng ta phải năng động, xê dịch. Phải thay đổi cách nhìn và chỗ đứng. Và như thế, chúng ta không thể sống đời sống chân lý nếu chúng ta không biết đổi thay, gọt giũa hằng ngày theo những đòi buộc mới của một đời sống công giáo chân chính.
Đúng thế! Không thể dừng lâu trên một phím đàn nếu muốn bấm một hợp âm. Phải lướt. Phải chuyển ngón. Phải hoà điệu với những nốt nhạc khác nằm ở nhiều vị trí khác nhau. “To be is to be with”: Sống là sống với. Không thể sống tư duy - một đời sống công giáo chân chính - nếu chúng ta không dám sống với tha nhân. Và chỉ sống như thế, chúng ta mới đạt đến điều mầu nhiệm. Đến sự bất diệt, vô biên. Đến tình yêu. Như Karen Sunde viết: “To love is to receive a glimpse of heaven.”
“Gratitude is our most direct line to God and the angels.” (Terry Lynn Taylor)
Sống biết ơn là không sống công thần và mặc cảm. Công thần, vì chúng ta quá tự cao về quá khứ và quên đi hoàn cảnh và thân phận hiện tại đích thực của mình. Mặc cảm, vì chúng ta tự ti về thân phận hiện tại đích thực của mình mà quên đi truyền thống, văn hoá của dân tộc và quê hương. Cần phải tránh cả hai thái độ có thể nói là cực đoan này, bởi vì cả hai đều đưa chúng ta xuống vực thẳm sâu.
Chúng ta là con người. Duy nhất! Chúng ta, như George MacDonald viết, “là một cái gì cá biệt, độc nhất mà không thể tìm thấy ở nơi một người nào khác.” Con én này không thể giống con én kia mặc dầu chúng cùng nòi cùng giống. Hãy sống tận cùng cái duy nhất của chúng ta. Hãy sống cho hết "chất người" trong chúng ta.
Sống cho hết "chất người" có nghĩa là chúng ta không thể sống theo bản năng như những loài cầm thú. Một đoá hoa không thể được gọi là hoa nếu nó không nở hoa. Cũng thế, sống cho hết "chất người" là chúng ta phải sống đầy đủ và trọn vẹn đời sống con người; là biết phân biệt giữa thực và hư, giữa phương tiện và cứu cánh. Vì nếu không phân biệt được thực và hư, phương tiện và cứu cánh, sống theo kiểu "tôi là cái tôi có", chúng ta đã sống không đúng nghĩa con người. Chúng ta, như thần học gia Bernard Lonergan gọi, là “những chủ thể bị cắt xén”. Những chủ thể không toàn vẹn.
Denken ist Danken: Thinking is Thanking: Biết tư duy là biết ơn. Hãy trả ơn cho quê hương Australia, những ân nhân của mảnh đất cưu mang chúng ta đây, bằng cách sống một đời sống Công giáo thật chân chính. Hãy đừng vụ hình thức. Hãy đừng sống bề ngoài. Hãy đừng, như Nguyễn Thái cảnh giác, “xuất hiện trong y áo xênh xang, trong cử điệu tự cao tự mãn.” Biết tư duy là biết rằng: không thể giản đơn có quyền lực bằng cách khoác vào người bộ áo quyền lực.
Tôi vẫn thích nhìn đời sống con người qua hình ảnh của một cây khô trụi lá giữa mùa đông lạnh buốt gió sương mà John Dunne đã mô tả trong cuốn sách của ông “The House of Wisdom”. Cây đã khô, lá đã vàng rồi, nhưng vẫn luôn có một mầm sống tiềm ẩn, chờ đến mùa xuân sẽ nở nhụy khai hoa. Và Dunne gọi đó là "divine essence" mà tôi tạm dịch là "thiên chất".
Chúng ta, những người Công giáo Việt Nam hải ngoại - cũng thế. Nếu muốn thấy mùa xuân - thực sự thấy mùa xuân, chúng ta cần phải sống qua những mùa đông băng tuyết đã.
10.03.2004
Lm. Nguyễn Khoa Toàn 67
|