Một vài suy tư về trinh tiết trước hôn nhân Dr. Trần Duy Thực 65
Sống với nhau trước hôn nhân của giới trẻ Âu Mỹ ngày nay hình như là một điều hết sức bình thường, có đến phân nửa các bạn trẻ đã sống chung trước khi tìm đến với các lớp giáo lý hôn nhân. Phải nói như thế nào với họ về trinh tiết trước hôn nhân? Giáo hội Công giáo có đồng với quan niệm này? Hay lên án?
Xin ngắn gọn, bởi vì bài viết có lẽ hơi dài. Phần lớn các tư tưởng trong phần đầu tôi đã rút ra từ cuốn sách của Walter Kasper, một vị Hồng y người Đức, một nhà thần học nổi tiếng hiện nay: “La théologie et l'Eglise”, Cerf 1990 (viết tắt TE).
a) Vấn đề trinh tiết trước hôn nhân có lẽ không phải là vấn đề nóng bỏng hiện nay. Nhân tài thực lực của Vatican cũng giới hạn. Lo những vấn đề liên quan tới sự sống, nghèo đói, công bình, chiến tranh… đã đủ mệt.
b) Trinh tiết liên quan nhiều tới Giáo Luật, chứ ít liên hệ tới tín lý. Tôi không biết và không thích Giáo Luật, nếu không muốn nói thẳng là mình ghét. Cho nên, chỉ xin bàn tới tín lý. Trên phương diện thực thi lời GH dạy, thì Giáo Luật nằm dưới tín lý một bậc. Và như thế, trên một bình diện nào đó, nếu suy luận đã đúng cho tín lý thì cũng sẽ đúng cho Giáo Luật.
I. Nhận định
a) Giáo Hội càng lúc càng đa dạng. Ta thấy điều này rõ nhất trong các xã hội bắc Mỹ châu. Văn hoá đa dạng, mà GH thì phải nhập thế và hội nhập văn hoá.
b) “Le dogme chrétien ne se réfère pas d'abord au problème de l'autorité mais, en premier lieu, à celui de la vérité” (TE, p.36). Nói một cách khác, từ chân lý mà ta thâu gọn lại thành tín lý, chứ không phải ngược lại. Hoặc là: “L'Eglise n'a donc pas compris ses dogmes comme n'étant qu'une vérité particulière, mais comme la forme d'expression de la vérité” (ibid p.37). Tín lý chỉ là hình thức phát biểu của chân lý.
c) “Il est possible d'engager un renouvellement du principe dogmatique conforme aussi bien à l'Evangile qu'aux exigences du temps” (ibid, p.40). Vâng, giấy trắng mực đen của vị Hồng y nổi tiếng viết rất rõ: “aux exigences de l'Evangile et du temps”.
d) “Tout homme mène une existence dogmatique” (ibid, p.42). Mỗi người đều tự chọn cho mình một hướng đi về chân lý. Khi họ chọn như thế thì họ đã bằng một cách nào đó điều đình với xã hội mà họ đang sống. Một khi đã hoà hợp với môi trường của mình, chân lý trở thành xác quyết. “La vérité devient donc certitude par le moyen de l'entente et de l'accord”.
e) Chân lý đem lại hoà bình chứ không phải chia rẽ. “La vérité et l'amour interdit de tout ramener par force à un dénominateur commun et de revenir à une unité uniforme et monolithique (…) La vérité et l'amour sont donc intimement liés l'un à l'autre, et c'est témoigner d'un manque total de réflexion que de sacrifier l'un à l'autre” (ibid, p.52).
Nói tóm lại: tín lý là từ chân lý mà ra. Chân lý đòi hỏi đối thoại bởi vì không thể nào hiểu chân lý nếu thiếu tình yêu.
II. Tín lý và chú giải
Nói một cách khác là giải thích ý nghĩa của tín lý và qua đó giáo luật. Mà chú giải (có người còn dịch là thông diễn) thì có 3 khoản:
- subtilitas legendi: đọc. Tôi đọc “cấm làm sự dâm dục”, tôi cũng đọc “nếu rung động trước một người khác phái không phải chồng/vợ của mình thì đã phạm tội ngoại tình”.
- subtilitas interpretandi: chú giải. Đọc 2 câu trên thì ta nghĩ như vầy. Về câu thứ nhất thì ta lại phải tự hỏi thêm sự dâm dục là gì? Về câu thứ hai thì có 2 lối giải thích. Lối thứ nhất: Chúa “lý tưởng” quá, khắt khe quá! Lối thứ hai: nếu đã thực sự yêu thì mần răng mà còn thèm mơ tưởng tới người khác. Ở đây, không phải Chúa nhấn mạnh tới luật lệ, mà muốn nhấn mạnh tới tình yêu.
- subtilitas intelligendi: hiểu. Mỗi người hiểu theo hoàn cảnh và môi trường mình sống. Ở VN không thể nào hiểu như Âu Mỹ được. Thế thì lại rơi vào tương đối chủ nghĩa, ai muốn hiểu sao thì hiểu? Dạ thưa không, như đã nói ở trên, văn hoá thì đa dạng mà GH thì phải hội nhập. Nhưng tiếng nói cuối cùng thì cũng phải thuộc thẩm quyền của GH chứ? Dạ thưa, như đã nói ở trên, chuyện trinh triết trước hôn nhân không phải là “tách trà” mà các nhà thần học Vatican vẫn thường uống. Họ còn nhiều chuyện quan trọng hơn phải lo...
Và nếu theo trường phải piétisme thì có lẽ phải thêm khoản thứ 4: subtilitas applicandi: làm. Nếu hiểu mập mờ thì làm cũng mập mờ... theo “lương tâm” của mình. Nói chơi thôi, nhưng nếu muốn hiểu rõ hơn thì ta lại tiếp tục phân tích.
III. Hiện trạng
Dạ thưa, đúng là có vấn đề văn hoá. Có lẽ có một vài hiểu lầm đáng tiếc khi dùng cụm từ “thử nghiệm”. Theo tôi, thì chưa chắc dùng như thế đã đúng. Tại sao? Tôi hiểu theo ý nghĩa “engagement”, tạm dịch là dấn thân.
Trong khi ở một số môi trường văn hoá xem rằng tình yêu đôi lứa là dấn thân chỉ một lần, thì ở Âu Mỹ, lắm khi họ lại nghĩ hơi khác: dấn thân nhiều lần, theo giai đoạn. Lần thứ nhất là ở chung với nhau, lần thứ hai là làm đám cưới. Lần thứ ba là khi có con với nhau. Mỗi lần như thế thì cảm thấy khắng khít với nhau hơn.
Tuỳ theo môi trường nghèo giàu, học thức hay không. Nhưng lấy thí dụ một gia đình có giáo dục đàng hoàng, gái thì cỡ chừng 18-20, trai thì cỡ chừng 20-22 thì ra riêng. Nhiều khi không ra thì cha mẹ cũng tìm cách bắt ra. Và đó cũng là tuổi mà “bông hoa tình yêu” vừa chớm nở, thế là ở chung với nhau. Chẳng phải ai ai cũng tự nhủ rằng “tao ở với mày vài tháng, nếu không thấy hợp thì tao kiếm đứa khác”. Không, không! Phần đông là họ thương nhau thật tình. Một số không nhỏ sau đó đã tiến tới hôn nhân và có con với nhau.
Nói tóm lại. Như đã nói ở đoạn đầu, thứ nhất là Chân Lý và Tình Yêu, sau đó mới tới tín lý, và sau cùng là giáo luật. Nếu giữ đúng giáo luật mà không có chân lý tình yêu thì là... khỏi nói. Nhưng nếu không đúng giáo luật mà giữ đúng luật cao nhất của Thiên Chúa là Tình Yêu thì có lẽ cũng đỡ hơn chăng?
IV. Kết luận
Tình yêu là chân lý. Chân lý là tình yêu. Chân-lý-tình-yêu quan trọng hơn mọi thứ khác. Có tình yêu, dù sai trái thì có lẽ cũng châm chước được. Còn ngược lại, thì ôi thôi... miễn bàn.
Dr. Trần Duy Thực 65
|