MAIN MENU
VỀ CUỘC SỐNG
- Bên ni bên nớ
- Trần tình của người nằm xuống
- Suy gẫm
- Gia đình và cuộc sống
- Thầy Mạnh Tử
- Tang chế
- Giúp con học Toán
- Thế giới của Minh tâm Và Bách khoa
- Ẩn tình nàng Algebra
- Ly nước lã
- Thái độ của cha mẹ khi con cái đau ốm
- Phải làm gì khi con cái bất hòa với nhau?
- Tuổi Romeo và Juliet
- Ăn no và ăn ngon
- Biết về đâu?
- Đi tìm lẽ sống
- Đơn giản
- Biết suy nghĩ là biết ơn
- Tô cháo tháng Chạp
- Ngày hôm qua
- Ăn Tết ở nhà thờ
- Tết xa nhà
- Còn nguyên mùa xuân
- Nhớ dế Ban Mê
- Mùi bánh khọt nhà thằng Tĩnh
- Cái dây thòng lọng
- Xuân một thoáng
- Đạo thờ bà
- Có những tấm lòng
- Ngậm nhũ dương đón Tuất
- Mơ Thiên đàng
- Chuyện ngụ ngôn
- Tu là cõi phúc
- Chén nước mắm
- Kinh nghiệm ôn và luyện thi
- Xưng tội bằng chat
- Trinh tiết trước hôn nhân
- Kiến trúc tôn giáo, bây giờ
- Sống vui tươi hùng dũng
- Vous êtes mes héros
- Nhật ký mùa thu
- Đồ cổ
- Phân trần dĩ vãng
- Mẹ ơi!
- Bố ơi!
- Nỗi lòng của một người mẹ
- Đức Mẹ Tà Pao
Kiến trúc tôn giáo, bây giờ
Hư Trúc 67


Trước khi nói đến bây giờ, tưởng cũng nên nhắc đến ngàn xưa. Xưa là năm 1049, khi Lý Thái Tông xây chùa Một Cột theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Đó là một công trình có thể nói mang tính ẩn dụ tuyệt hảo chẳng khác gì nhà thờ Ronchamp do KTS Le Corbusier thiết kế gần cả ngàn năm sau.

Thực ra, theo tài liệu lịch sử, lối kiến trúc một cột có từ trước đời nhà Lý. Ở Hoa Lư, Ninh Bình trong ngôi chùa của con gái vua Đinh Tiên Hoàng, có một cây cột đá cao, sáu cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005). Phía trên cột là tòa sen chạm. Năm Long Thụy Thái Bình thứ năm đời Lý Thánh Tông (1058) có xây điện Linh Quang ở Thăng Long, phía trước điện dựng lầu chuông, một cột sáu cạnh hình bông sen. Như vậy, trước khi xây chùa Một Cột, lối kiến trúc đó đã là một thực tế nghệ thuật cổ truyền. Ngôi chùa Một Cột có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, quy mô chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá như hình ảnh hiện nay. Thực dân Pháp trước khi rút khỏi Hà Nội đã cho nổ mìn phá chùa. Tuy nhiên, chùa đã được trùng tu cơ bản như trước. Chùa Một Cột hiện nay bao gồm đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong, dựng trên cột cao 4m (không kể phần chìm dưới đất), đường kính 1,20m có cột đá là 2 khúc chồng lên nhau thành một khối. Tầng trên của cột là hệ thống những đòn gỗ làm giá đỡ cho ngôi đài ở trên. Đài Liên Hoa có mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều nguyệt. Ngày nay không có những cánh sen trên cột đá như đã nói đến trong văn bia thời nhà Lý, nhưng ngôi chùa dựng trên cột vươn lên khỏi mặt nước vẫn là kiến trúc độc đáo, gợi hình tượng một bông sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh. Kiến trúc chùa xây dựng gần với kiến trúc nhà Hậu Lê.(1)

Một kiến giải khác, hình dáng chùa còn tượng trưng cho linga và yoni theo triết lý phồn thực (2) thời bấy giờ.

Có thể nói, đó là một kiến trúc tôn giáo mang tính biểu hiện sớm nhất trên thế giới. Từ đó trải qua cả ngàn năm lịch sử, những ngôi chùa và đình tiếp tục là những kiến trúc độc đáo, thật đẹp, để lại dấu ấn rất mạnh, vì tính mạnh mẽ trong kết cấu, hoa văn chạm trỗ khéo léo, những thức kiến trúc mái đao như cánh chim vút lên giữa tầng không đưa tâm hồn con người bay bổng.

Những ngôi chùa ấy còn đẹp nhờ tính hài hoà trong không gian, từ điểm phát lên thành tuyến trục, thành mảng quyện lấy nhau. Những cánh cổng tam quan thấp như muốn ta phải cúi đầu xuống khi bước vào chùa. Ta có thể nghiệm lại điều này ở cổng tam quan của chùa Nam Thiên Nhất Trụ ở Thủ Đức.

Sau đó kiến trúc Công giáo cũng góp một phần vào kiến trúc tôn giáo Việt. Đệ nhất kiến trúc Công giáo kết hợp chất liệu địa phương, kiến trúc truyền thống với kiến trúc hiện đại phương Tây là nhà thờ Phát Diệm.

Nhà thờ Phát Diệm thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội 130 km về phía Nam. Tên Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, do Nguyễn Công Trứ đặt. Khi được cử về coi giáo xứ năm 1865, cha Trần Lục (còn gọi là cụ Sáu) đến thì đây chỉ là một bãi bùn lầy đầy những cói và sậy. Cha đã trăn trở nghĩ suy mười năm, một mình cưu mang việc xây dựng nhà thờ, bắt đầu từ con số không. Khi đạo Công giáo được tự do, Đức Cha Theurel đã sai cha vào Huế yết kiến vua Tự Đức để xin trả lại làng Vĩnh Trị cho người Công giáo. Dịp này, cha đã đi quan sát đền đài miếu mạo và lăng tẩm ở kinh đô để phác họa trong đầu bản thiết kế kết hợp hai giòng kiến trúc Đông, Tây. Những mái dốc, những mái cong, những chông diềm, những hành lang bao quanh và dáng vẻ kiến trúc chung này phải quen thuộc, phải gần gũi tâm hồn Việt Nam. Cha đã vận động giáo dân mỗi nhà góp 10 ký gạo một năm để có quỹ thi công. Nhà thờ đá được xây dựng trong suốt thời gian 24 năm liên tục (1875-1899), với trình độ kỹ thuật và điều kiện giao thông của những năm cuối thế kỷ 19 thì chỉ việc vận chuyển hàng nghìn tấn đá, có những phiến nặng 20 tấn, cùng hàng trăm cây gỗ lim về tới Phát Diệm để xây nhà thờ là một kỳ công. Kim Sơn vốn là vùng đất rất lầy lội, người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40 km về để chống lún.

Khu nhà thờ rộng gần 22 mẫu gồm nhiều hạng mục công trình được chia làm 2 khu vực chính: khu nhà thờ và khu nhà chung (nơi ở và dạy giáo lý). Nhà thờ chính tòa xây dựng năm 1891, đây là hạng mục lớn nhất của công trình nhà thờ Phát Diệm. Nhà thờ chính tòa dài 80m, rộng 24m, cao 18m, bao gồm 48 cột lim, mỗi cột chu vi 2,4m. Hai gian thánh điện có 14 bức phù điêu bằng đá mô tả chặng đường thánh giá của Chúa Kitô. Mặt chính nhà thờ chính tòa nhìn ra hồ nước rộng 4 mẫu, giữa hồ có đảo nhỏ, trên đảo dựng tượng Chúa Kitô cao 3m. Năm 1889, xây dựng điện trái tim Đức Mẹ toàn bằng đá. Điện dài 15m, rộng 9m, từ nền điện đến cột, xá hoành... đều bằng đá trắng.

Đấy là ta nói thời xưa và xin được trở lại với chuyện bây giờ.
Mấy năm gần đây, do nhu cầu phát triển nhiều nhà thờ, đền chùa được xây mới hoặc tu sửa. Và có lẽ do đó mới có nhiều chuyện để nói.

Trước tiên, xin kể chuyện nhà thờ V. G., giáo phận Nha Trang quê tôi. Nhà thờ vốn có hai dãy hành lang bên hông với hàng cột xi măng vạm vỡ, vách lui vào trong như kéo thiên nhiên vào thật sâu, tạo ra những khoảng không gian đặc và rỗng thật hài hoà. Nhưng giáo dân đông dần lên nên đến những năm 1980, nhà thờ được tu sửa mở rộng bằng cách bịt kín hai hành lang và đập vách ở trong. Rộng thì có rộng, nhưng kiến trúc nhà thờ trong giống chiếc xe chở tù – xe bít bùng vừa chạy vừa hụ còi như chó sủa trên đường phố Sài Gòn mỗi sáng, mỗi trưa và mỗi chiều. Đấy là trí tuệ của cha sở được các ông nghị gật trong hồi đồng giáo xứ đồng thuận. Bạn thử tưởng tượng cũng kiểu ấy đem áp dụng bịt kín hai hành lang nhà thờ Đức Mẹ hằng cứu giúp Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, thì kiến trúc ấy sẽ quái dị như thế nào. Gần đây tôi lại có dịp nhìn mô hình kiến trúc nhà thờ V. G. mới do một kiến trúc sư nào ở Sài Gòn thiết kế. Ôi trông càng quái dị vì nó cóp kiểu nhà thờ Đức Bà Paris. Một không gian làng quê còn nguyên vẹn ấy mà cưu mang một kiến trúc icon ở đâu xa lắc thì đáng tiếc lắm ru. Nghe đâu sau này, nhắm không đủ tiền (lý do là không đủ tiền chứ không phải vì thấy không đẹp) nên hai tháp chuông bị rút bớt còn một tháp. Nhưng vấn đề của các cha sở là tiền chứ không cần kiến trúc trở thành dấu ấn để đời như cha Trần Lục xửa xưa đã làm. Các ngài chỉ có ra nước ngoài xin tiền là chính, chứ chẳng thấy ai cất công đi quan sát kiến trúc những xứ phương Đông, nhất là kiến trúc giáo đường tối giản của các kiến trúc sư Nhật như Tadao. Thế là ta có những dị dạng kiến trúc.

Đó là chưa kể những xây dựng phát sinh trong khuôn viên thánh đường làm hư bố cục đường trục của nhà thờ, nhà chùa. Nói nhà thờ thì cũng nói chùa cho người ta khỏi bảo mình bất công. Xin đan cử ví dụ về chùa Nam Thiên Nhất Trụ ở Thủ Đức. Chùa được sư trụ trì có sáng kiến xây một trụ cổng bên hông bằng sứ đập vụn ốp, cao gấp rưỡi cổng tam quan. Mô Phật! Kiểu này cũng giống như xây cái cửa bếp to gấp rưỡi cửa nhà khách! Chẳng hiểu các sư, các cha, vốn là những người tài cao, học rộng, nhìn xa, có thấu thị được không nhỉ! Đó là chưa kể một khối kiến trúc cao tầng bên trong biến ngôi chùa một cột thành cái chuồng chim bồ câu - ấy là nói về tỷ lệ hài hoà. Trời ởi trời ơi!

Những anh em Sài Gòn chắc còn nhớ ngôi nhà thờ ba chuông đẹp đẽ, thanh bình, hài hoà với cái lầu chuông thanh thoát, tuy nhà thờ có thấp nhưng lại cân xứng với khuôn viên tràn bóng cây xanh. Giờ đây nó được thay thế bằng một ngôi nhà thờ hoành tráng, phá nát cái không gian vốn rất đẹp và có chiều sâu, với những mái đao hung dữ như giơ móng múa vuốt tràn ra đường. Tại sao ở trên tôi khen những mái đao chùa đình cong vút như những cánh chim bay trên không trung nâng tâm hồn ta lên cùng, ở đây tôi lại bảo những mái đao nhà thờ như giơ nanh múa vuốt, antéchrist chăng? Thưa rằng có nghĩ như vậy cũng được vì tôi vẫn cứ là tôi, nhưng hãy chú ý tỷ lệ trong kiến trúc. Những đình chùa kia nằm trong một không gian rộng lớn hài hoà, còn nhà thờ ba chuông bây giờ như cái chân xỏ trong đôi giày vừa khít. Còn may là nó được sơn màu lạnh, chứ nếu màu nóng như kiến trúc Việt thì nổ con mắt người đi đường. Ấy cũng là từ trí tuệ của các bậc đại trí dòng Đa Minh! Nghe đâu là bê nguyên xi một mẫu nhà thờ của cộng đồng người Việt nào ở nước ngoài về. Điều này nó làm cho người ta liên tưởng đến kiểu làm thơ chữ Hán của một nhân vật rất nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam.

Tôi có hỏi người bạn trụ trì nhà thờ P. L., giáo phận Phan Thiết, nhà thờ là kiến trúc giúp ta vươn tâm hồn lên với Chúa, mà sao nhà thờ này mang một cục bê tông chà bá làm nát cái mặt tiền và đè mặt tiền xuống, khiến tâm hồn người ta chỉ có trì trệ xuống. Anh bạn trả lời, không hề nhíu mày: “Do đức cha vẽ kiểu.” Ô hô! Lại có thêm một đấng có quyền bất khả ngộ về cái đẹp, áp đặt cho giáo dân. Có lẽ nhà thờ này do Đức Cha cho tiền. Mà hễ ai có tiền thì có quyền yêu cầu bài hát!

Nếu muốn viết một cuốn phê bình kiến trúc Công giáo, chỉ cần chịu khó làm một chuyến xuyên Việt. Sách có lẽ dày lên cả ngàn trang, lại thiên về những cái không đẹp chiếm phần lớn. Nhưng chắc bán không chạy, vì chẳng mấy ai chịu nghe chuyện chê bai đâu.

Hư Trúc 67